Loài cực kỳ nguy cấp Thằn lằn chân ngón Gia Lai – Cyrtodactylus gialaiensis trước bờ vực tuyệt chủng: sinh cảnh bị tàn phá và cơ hội nào để phục hồi quần thể loài
Nhận thức được sự cấp thiết, một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với các chuyên gia nghiên cứu thuộc Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Lâm Nghiệp, Việt Nam và Vườn thú Cologne, Đức, kéo dài từ năm 2022 đến 2025 đã được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng quần thể, khả năng mở rộng phạm vi phân bố, làm rõ các đặc điểm sinh thái học và xác định cụ thể các mối đe dọa trực tiếp. Kết quả nghiên cứu không chỉ phác họa bức tranh đáng báo động về một loài đang trên bờ vực tuyệt chủng, mà còn cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để đề xuất các chiến lược bảo tồn khẩn cấp và khả thi.
Thằn lằn chân ngón Gia Lai (Cyrtodactylus gialaiensis) là loài đặc hữu của Việt Nam, được phát hiện lần đầu tại một nông trại cà phê ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Ngay sau khi được mô tả, loài đã được xếp vào nhóm Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ của IUCN do phạm vi phân bố cực hẹp (dưới 10 km²) và tình trạng môi trường sống bị đe dọa nghiêm trọng. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa tại bốn huyện của tỉnh Gia Lai (Chư Sê, Đức Cơ, Chư Pah, Chư Prông) để đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng quần thể và các nhân tố tác động đến loài.

Các cá thể loài Thằn lằn chân ngón Gia Lai
Các khảo sát được thực hiện tại các khu vực canh tác cà phê, cao su, sầu riêng và các khu vực rừng tự nhiên còn sót lại, ở độ cao từ 557–650 m so với mực nước biển. Tổng cộng 56 cá thể đã được ghi nhận và đánh dấu. Sử dụng phương pháp bắt–đánh dấu–thả lại và phương pháp ước tính, kích cỡ quần thể tại huyện Chư Sê được ước tính chỉ khoảng 96 cá thể, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 40–314 cá thể, trong đó chỉ có 47 cá thể trưởng thành. Mật độ cá thể trưởng thành rất thấp, dao động từ 4–8 cá thể/km², phản ánh một quần thể cực kỳ nhỏ và phân tán.
Về đặc điểm sinh cảnh, loài này được tìm thấy trên cả hai loại đất bazan và đất sét, chủ yếu trong các hốc vách đất đá, trên thân cây, bụi cây giữa các nương cà phê và đường giao thông. Nhiệt độ môi trường tại nơi ghi nhận dao động quanh 23°C, độ ẩm trung bình đạt 81%. Phần lớn cá thể hoạt động vào ban đêm, đặc biệt trong khoảng 20h – 22h. Độ che phủ tán cây trung bình chỉ đạt 35%, cho thấy loài phải tồn tại trong các sinh cảnh bị xáo trộn mạnh và không có thảm thực vật nguyên sinh.

Môi trường sống của loài tại địa điểm khảo sát
Các hoạt động chuyển đổi đất nông nghiệp, đặc biệt là việc thay thế cà phê bằng các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn như chanh leo, dứa, hay việc mở rộng đường giao thông, đã gây mất môi trường sống, suy thoái và phân mảnh nghiêm trọng – được xác định là mối đe dọa chính. Ngoài ra, rác thải nhựa và hóa chất nông nghiệp được ghi nhận phổ biến xung quanh sinh cảnh của loài. Một dấu hiệu đáng báo động là tỷ lệ cao các cá thể có đuôi tái sinh (38–60%), có thể phản ánh áp lực từ săn mồi hoặc xung đột trong môi trường sống chật hẹp. Các tuyến khảo sát cũng cho thấy không có quần thể nào nằm trong các khu bảo tồn hiện có, khiến chúng đặc biệt dễ bị tổn thương.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các biện pháp bảo tồn khẩn cấp, bao gồm thiết lập các khu bảo vệ tại chỗ, hạn chế chuyển đổi đất canh tác, tăng cường giám sát quần thể, và triển khai chương trình nhân nuôi sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt để hỗ trợ phục hồi quần thể tự nhiên. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cộng đồng và phối hợp với các cơ quan quản lý để bảo vệ sinh cảnh còn lại của loài.
Links các bài báo liên quan: https://natureconservation.pensoft.net/article/169011
Cung cấp tin: TS. Ngô Ngọc Hải - Viện Sinh học
Xử lý tin: Minh Tâm
