Lật mở hồ sơ phân loại hơn 100 năm tuổi của các loài Ceratocorys: Bước tiến mới của các nhà khoa học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Cả 3 loài đều có phần vỏ trên thấp, sự sắp xếp các tấm vỏ hoàn toàn không khác nhau (Hình 1-24). Phần vỏ dưới của C. horrida có hình hộp với 6 gai dài hoặc ngắn (Hình 1-4); loài C. armata có hình nón tròn không có hoặc có các gai rất ngắn (Hình 5-8); và C. gourretii có hình ống tròn với 5 gai có kích thước ngắn hơn loài chuẩn C. horrida (Hình 9-12).
Hình 1- 4, Ceratocorys horrida f. horrida; Hình 5 – 6, C. horrida f. armata; Hình 9 -12, C. horrida f. gourretii
Các dòng Ceratocorys được phân lập ở biển phía Nam của nước Pháp (Địa Trung Hải) và Vịnh Nha Trang (Biển Đông, Việt Nam) và chúng được nuôi cấy và duy trì tại Phòng thí nhiệm Thực vật phù du (Phòng Thực vật biển, Viện Hải dương học), Trạm Sinh học biển Concarneau và Roscoff (Brest, Pháp). Sau thời gian nuôi cấy dòng Ceratocorys horrida (VINNTB01-06) với nhiều tế bào không có gai mang hình dạng của loài C. armata. Trước đây trong tự nhiên, Graham (1942) cũng ghi nhận trường hợp này, nhưng Carbonell- Moore (1996) lại cho dạng không gai này là loài mới với tên là Ceratocorys grahamii. Loài Ceratocorys armata có hình thái tế bào biến đổi mạnh mang đặc trưng của loài C. gourretii.

Hình 13- 16, Ceratocorys bipes; Hình 17 – 20, C. magna; Hình 21 -24, C. malayensis
Hai loài Ceratocorys bipes (Hình 13-16) và C. magna (Hình 17-20) là 2 loài có kích thước lớn, hình dạng khác biệt so với các loài Ceratocorys khác và chúng hiếm gặp ở vùng biển Việt Nam cũng như trên thế giới được mô tả chi tiết nhằm cung cấp một cách đầy đủ các đặc trưng hình thái đến các nhà phân loại học tảo Hai roi. Loài Ceratocorys malayensis (Hình 21-24) được tìm thấy khá phổ biến trong vùng biển Nam Trung Bộ, lần này các mô tả về hình thái và đặc trưng di truyền của các loài được bổ sung.
Từ những cơ sở phân tích hình thái học, cả 3 dòng Ceratocorys đã được phân tích các vùng gen 18S, 28S, ITS1-5.8S-ITS2 và cấu trúc bậc 2 của ITS2 đã chứng minh rằng cả 3 loài Ceratocorys horrida, C. armata, và C. gourretii không khác nhau về mặt di truyền, tất cả đều là một loài. Căn cứ vào các quy định của danh pháp quốc tế về Thực vật học, mã Schenzen (2018), chúng tôi đã xây dựng các “formae” như sau:
- Ceratocorys horrida f. horrida Stein 1883
- Ceratocorys horrida f. armata (Schütt) L. Nguyen-Ngoc, J. Larsen, K.N. Mertens, H. Doan-Nhu & N. Lundholm, comb. et stat. nov. 2025
- Ceratocorys horrida f. gourretii (Paulsen) L. Nguyen-Ngoc, J. Larsen, K.N. Mertens, H. Doan-Nhu & N. Lundholm, comb. et stat. nov. 2025

Hình 25, Cấu trúc bậc 2 của ITS2; Hình 26, Phát sinh chủng loại của họ Protoceratiaceae được suy luận từ các phân tích tối đa hợp lý (maximum likelihood), láng giềng gần nhất (neighbour joining) và suy luận Bayes (Bayesian Inference) dựa trên một bản căn chỉnh 881 bp của vùng rDNA LSU.
Đây là 1 trong các bài báo nghiên cứu về khoa học phân loại học kết hợp với các phân tích di truyền nhằm nêu lên sự phân loại các loài mới cho khoa học, các loài nhầm lẫn và vị trí phân loại học của chúng trong cây phả hệ di truyền của nhóm các nhà Khoa học Việt Nam và Quốc tế đã được công bố trong một tạp chí chuyên ngành, Journal of Phycology là một tạp chí quốc tế hàng đầu chuyên công bố các nghiên cứu về mọi khía cạnh của tảo. Tạp chí có số xuất bản đầu tiên vào tháng 3 năm 1965 bởi Hiệp hội Tảo học Hoa Kỳ (Phycological Society of America). Cho đến nay tạp chí có IF=3.4, Hindex=180 và xếp hạng Q1.
Các thông tin về bài viết này có thể được tìm thấy tại:
Nguyen-Ngoc, L., J. Larsen, H. Doan-Nhu, K.N. Mertenrs, N. Lundholm, … et al., 2025. Morphomolecular studies of Ceratocorys species (Dinophyceae, Gonyaulacales, Protoceratiaceae) reveal that Ceratocorys armata, C. gourretii and C. horrida are conspecific and should be considered formae of C. horrida. Journal of Phycology. Published online on 05/12/2025. https://doi.org/10.1111/jpy.70108
Cung cấp tin: GS.TS. Nguyễn Ngọc Lâm - Viện Hải dương học
Xử lý tin: Minh Tâm
