Hợp tác quốc tế để nâng cao nội lực khoa học và công nghệ Việt Nam
Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin (Vla-đi-mia Pu-tin) và Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron (Ê-ma-nu-en Ma-cờ-rông), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga; thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Không gian vũ trụ tại Paris, Pháp từ ngày 7 đến 12/9/2026.
Trước thềm chuyến thăm, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã chia sẻ về những kết quả hợp tác nổi bật, tiềm năng mở rộng hợp tác và định hướng nâng cao năng lực khoa học, công nghệ của Việt Nam trong thời gian tới.

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Hồng Thái tham luận tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 ngày 5/8/2026
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, với Liên bang Nga, Việt Nam có nền tảng hợp tác lâu dài trong khoa học, công nghệ, đặc biệt là quá trình đào tạo và xây dựng đội ngũ khoa học, hình thành năng lực nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng. Chuyến thăm lần này sẽ mở ra những cơ hội hợp tác mới, phù hợp với thế mạnh của mỗi nước, nhất là trong công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, đáp ứng những nhu cầu cụ thể trong quá trình phát triển. Với Pháp, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị và những gắn kết sâu sắc giữa hai nước, đang có những bước phát triển tích cực, mở ra nhiều dư địa hợp tác trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris góp phần khẳng định rõ ý chí và quyết tâm của Việt Nam trong hành trình làm chủ không gian vũ trụ, một lĩnh vực ngày càng có ý nghĩa chiến lược trong kỷ nguyên mới.
* Từ chiều sâu quan hệ đến chiều sâu của kết quả
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, trong nhiều thập kỷ, hợp tác khoa học và công nghệ với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng đội ngũ khoa học Việt Nam và hình thành năng lực nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ nền tảng. Quan hệ giữa Viện Khoa học Việt Nam, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô được thiết lập từ những năm 1970 và tiếp tục được duy trì, phát triển với Viện Hàn lâm Khoa học Nga sau năm 1991.
Một minh chứng cho tính bền bỉ và thực chất của quan hệ hợp tác là nghiên cứu biển. Trong giai đoạn 2005–2025, hai bên đã thực hiện 9 chuyến khảo sát chung bằng tàu nghiên cứu “Viện sĩ Oparin” trên vùng biển Việt Nam, hình thành chuỗi nghiên cứu liên tục về đa dạng sinh học, sinh thái và vi sinh vật biển, các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học và hóa học môi trường. Năm 2025, hai bên thống nhất tiếp tục lộ trình hợp tác nghiên cứu biển giai đoạn 2026–2035.
Tàu “Viện sĩ Oparin” cập cảng Hải Phòng ngày 31/5/2021, kết thúc chuyến khảo sát nghiên cứu chung lần thứ 7 giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga
Hình ảnh Lễ đón tàu nghiên cứu khoa học “Viện sĩ Oparin” và chuyến khảo sát đa dạng sinh học và hóa sinh biển lần thứ 9 giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Phân viện Viễn Đông năm 2025
Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cũng là một giá trị nổi bật của hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga. Thông qua việc Việt Nam tham gia Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân (JINR) tại Dubna từ năm 1956, nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam đã được đào tạo và làm việc trong môi trường nghiên cứu quốc tế. Hiện có gần 50 cán bộ Việt Nam làm việc tại JINR, trên các hướng từ vật lý hạt nhân, neutron, vật liệu bền bức xạ đến y học hạt nhân và thiết kế máy gia tốc.
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, giá trị lâu dài của hợp tác Việt – Nga chính là năng lực khoa học được tích lũy và tiếp nối qua nhiều thế hệ. Trong giai đoạn mới, hợp tác cần chuyển từ quan hệ hỗ trợ sang quan hệ đối tác bình đẳng, cùng nghiên cứu, cùng đầu tư nguồn lực, cùng tạo ra tri thức và cùng phát triển công nghệ mới.
* Hợp tác theo bài toán, hướng tới đồng phát triển công nghệ
Từ cách tiếp cận coi tự chủ khoa học và công nghệ là năng lực hiểu công nghệ, làm chủ nguyên lý và thiết kế, tích hợp hệ thống, vận hành, bảo trì, cải tiến và đào tạo được thế hệ chuyên gia kế tiếp, Viện Hàn lâm xác định một số hướng hợp tác có tính chiến lược với các đối tác Nga. Trong đó có vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; năng lượng mới và hệ thống năng lượng tiên tiến; công nghệ lượng tử và các công nghệ số nền tảng; công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV và các hệ thống tự hành; cùng công nghệ vật liệu tiên tiến.
Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron cùng Phu nhân thăm Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chủ tịch Trần Hồng Thái tiếp đoàn Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học, Liên bang Nga do Ngài K.I. Mogilevsky - Thứ trưởng dẫn đầu đến thăm và làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Điểm đáng chú ý là cách thức hợp tác cũng được đặt ra theo hướng mới. Thay vì chủ yếu trao đổi cán bộ, tổ chức hội thảo hay triển khai các đề tài riêng lẻ, hợp tác cần tiến tới đồng phát triển công nghệ, xây dựng các phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung tại Việt Nam, thực hiện các chương trình đồng tài trợ dài hạn gắn với bài toán công nghệ cụ thể, đào tạo nhân sự cốt lõi và đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển.
Viện Hàn lâm cũng định hướng chuyển từ “hợp tác theo đối tác” sang “hợp tác theo bài toán”. Những vấn đề lớn mà Việt Nam cần lời giải sẽ là cơ sở để lựa chọn đối tác phù hợp cho từng khâu, từ an ninh năng lượng, công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, quan trắc biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu đến vật liệu mới, lượng tử, công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám và UAV.
Theo cách tiếp cận này, mục tiêu cuối cùng của chuyển giao công nghệ là chuyển giao năng lực làm chủ công nghệ. Hiệu quả hợp tác vì vậy không chỉ được đo bằng số biên bản ghi nhớ hay số hội thảo, mà bằng số chuyên gia Việt Nam thực sự làm chủ công nghệ, các công nghệ, quy trình và nguyên mẫu được hình thành, mức độ nội địa hóa, sở hữu trí tuệ chung, dữ liệu khoa học được xây dựng và khả năng tiếp tục phát triển của đội ngũ Việt Nam sau khi chương trình hợp tác kết thúc.
* VNREDSat-1 và bước chuẩn bị cho thế hệ vệ tinh tiếp theo
VNREDSat-1 không chỉ là vệ tinh quan sát Trái đất đầu tiên của Việt Nam mà còn là chương trình quan trọng trong quá trình xây dựng năng lực quốc gia về công nghệ vệ tinh. Vệ tinh được phóng thành công ngày 7/5/2013 và chính thức bàn giao cho Việt Nam vận hành, khai thác từ tháng 9/2013. Đến năm 2026, VNREDSat-1 bước sang năm hoạt động thứ 14, vượt xa tuổi thọ thiết kế ban đầu là 5 năm và vẫn tiếp tục cung cấp dữ liệu, cho thấy độ bền của hệ thống cũng như năng lực vận hành của đội ngũ kỹ thuật Việt Nam.
Qua chương trình, Việt Nam từng bước hình thành năng lực vận hành một hệ thống vệ tinh tương đối hoàn chỉnh, gồm vệ tinh trên quỹ đạo, hệ thống điều khiển, trạm thu nhận và các thành phần xử lý dữ liệu mặt đất. Trong giai đoạn 2011–2013, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Astrium, nay là Airbus Defence and Space, tổ chức đào tạo chuyên sâu cho nhóm kỹ sư Việt Nam tại Pháp và Việt Nam. Sau khóa học, các kỹ sư được cấp chứng chỉ vận hành hệ thống, thực hành thiết kế, vận hành, phân tích và xử lý các tình huống kỹ thuật thực tế liên quan đến công nghệ vệ tinh và trạm mặt đất. Sau quá trình chuyển giao, đội ngũ kỹ sư của Viện có khả năng tự chủ vận hành, khai thác hiệu quả VNREDSat-1 và chủ động xử lý các vấn đề kỹ thuật phát sinh. Từ “biết vận hành”, đội ngũ từng bước chuyển sang “hiểu hệ thống, nhận diện vấn đề và xử lý tình huống kỹ thuật”.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái đánh giá, cùng với năng lực vận hành, Việt Nam từng bước làm chủ chu trình khai thác dữ liệu viễn thám, từ đặt yêu cầu chụp, điều khiển vệ tinh, thu nhận dữ liệu đến xử lý, lưu trữ và cung cấp sản phẩm ảnh. Dữ liệu VNREDSat-1 được sử dụng trong quản lý tài nguyên và môi trường, theo dõi thiên tai, nghiên cứu khoa học, đào tạo, phát triển kinh tế – xã hội và các nhiệm vụ liên quan đến quốc phòng, an ninh. Riêng từ năm 2020 đến nay, hệ thống đã cung cấp gần 30.000 cảnh ảnh vệ tinh, giúp Việt Nam chủ động hơn về thời điểm chụp, khu vực quan sát và nguồn dữ liệu phục vụ các nhiệm vụ ưu tiên.
Quan trọng hơn, VNREDSat-1 đã tạo dựng đội ngũ và nền tảng kỹ thuật cho các chương trình vệ tinh tiếp theo. Tuy nhiên, tự chủ vận hành VNREDSat-1 chưa đồng nghĩa với làm chủ toàn bộ công nghệ thiết kế và chế tạo vệ tinh quan sát Trái đất. Việt Nam cần tiếp tục đi sâu vào thiết kế hệ thống, tải hữu ích (Payload), điện tử vệ tinh, phần mềm bay, tích hợp–lắp ráp–kiểm thử và các công nghệ trạm mặt đất.
Đây cũng là hướng được đặt ra trong hợp tác Việt Nam – Pháp giai đoạn mới. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Emmanuel Macron từ ngày 25 đến ngày 27/5/2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Airbus Defence and Space và Cơ quan Vũ trụ Pháp (CNES) đã ký Tuyên bố ý định (DoI) nhằm đẩy mạnh hợp tác lâu dài trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ và vệ tinh quan sát Trái Đất. Ba bên thống nhất nghiên cứu khả năng phát triển hệ thống quan sát Trái đất thế hệ tiếp theo, tham khảo các công nghệ tiên tiến phát triển trong chương trình CO3D (Chòm sao Quang học 3D), đồng thời đặt vấn đề đào tạo và chuyển giao công nghệ trong chương trình tương lai.

Chủ tịch Trần Hồng Thái trao Kỷ niệm chương cho Ngài Đại sứ Olivier Brochet – Pháp ngày 13/7/2026
Trên nền tảng VNREDSat-1, Việt Nam và Pháp tiếp tục thúc đẩy hợp tác cho giai đoạn tiếp theo, trong đó có đề xuất VNREDSat-2. Hai bên đã trao đổi về phương án công nghệ, nguồn lực và lộ trình triển khai, với định hướng tăng mức độ tham gia của phía Việt Nam trong quá trình phát triển hệ thống. Theo đó, trong các chương trình tiếp theo, đội ngũ Việt Nam cần tham gia sâu và ngay từ đầu, từ xác định nhiệm vụ, thiết kế hệ thống, các phiên bản thiết kế đến phát triển, kiểm thử một số phân hệ, phần mềm, hệ thống mặt đất và khai thác dữ liệu; qua đó từng bước nâng tỷ lệ công việc phía Việt Nam có thể tự thực hiện.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, việc chuyển giao cũng cần gắn với đào tạo dài hạn, tài liệu kỹ thuật, thực hành trực tiếp và năng lực kiểm chứng độc lập. Đồng thời, cần bảo đảm tính kế thừa giữa các chương trình vệ tinh, để kinh nghiệm, đội ngũ, hạ tầng mặt đất và năng lực khai thác dữ liệu tích lũy từ VNREDSat-1 trở thành đầu vào cho thế hệ hệ thống quan sát Trái đất tiếp theo. Khi đó, mỗi chương trình không chỉ tạo ra một sản phẩm mới mà phải nâng thêm một bậc năng lực công nghệ của Việt Nam.
Về dài hạn, Việt Nam hướng tới phát triển và từng bước làm chủ vệ tinh, chùm vệ tinh quan sát Trái Đất cùng hạ tầng dữ liệu không gian. Hợp tác với các quốc gia có thế mạnh về công nghệ vũ trụ như Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc và các đối tác phù hợp khác cần được triển khai có chọn lọc, gắn chuyển giao công nghệ với đào tạo nhân lực và sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học, kỹ sư Việt Nam. Mục tiêu không chỉ là sở hữu thêm một vệ tinh, mà là từng bước hình thành năng lực tạo ra và phát triển công nghệ vệ tinh của Việt Nam.


Đoàn đại biểu cấp cao của Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Nga do ông Andrey Vladimirovich Yatskin - Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Nga dẫn đầu đến thăm và làm việc với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày 02/12/2025
* Từ tiếp nhận công nghệ đến hình thành năng lực nội sinh
Hai tuyến hợp tác với Liên bang Nga và Cộng hòa Pháp tuy có lịch sử, lĩnh vực và mô hình khác nhau nhưng cùng cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ trong hợp tác khoa học và công nghệ của Việt Nam: hợp tác quốc tế phải gắn với quá trình hình thành năng lực trong nước.
Đối với các chương trình công nghệ lớn, đội ngũ Việt Nam cần tham gia sâu ngay từ đầu, từ xác định nhiệm vụ, thiết kế hệ thống đến phát triển, thử nghiệm, vận hành và khai thác; đồng thời gắn hợp tác nghiên cứu với đào tạo chuyên gia, xây dựng nhóm nghiên cứu và khả năng tiếp tục phát triển công nghệ sau khi dự án kết thúc.
Mục tiêu cuối cùng vì thế không phải chỉ là sở hữu thêm một thiết bị, một hệ thống hay một vệ tinh mới. Điều quan trọng hơn là sau mỗi chương trình hợp tác, Việt Nam có thêm một đội ngũ chuyên gia có khả năng hiểu, vận hành, xử lý vấn đề, cải tiến và từng bước thiết kế thế hệ công nghệ tiếp theo.
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong định hướng hợp tác quốc tế của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: biến hợp tác quốc tế thành một phương thức nâng cao nội lực khoa học và công nghệ quốc gia; biến tri thức chung thành năng lực của các nhà khoa học Việt Nam; và biến kết quả nghiên cứu thành những lời giải cụ thể cho các bài toán phát triển của đất nước.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái tin tưởng chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga; thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Không gian vũ trụ tại Paris, Pháp từ ngày 7 đến 12/9/2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ tạo thêm động lực thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ giữa Việt Nam với các đối tác, trong đó có Liên bang Nga và Pháp, theo hướng thực chất, phù hợp với thế mạnh của mỗi bên và gắn với những nhu cầu phát triển cụ thể của Việt Nam. Đây cũng là cơ hội để Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ, qua đó tiếp nhận tri thức mới, nâng cao năng lực nghiên cứu và từng bước làm chủ các công nghệ phục vụ phát triển đất nước./.
Vân Nga
