Hơn 100 loài động vật có vú ở Việt Nam đang bị đe dọa theo tiêu chí của IUCN

21/10/2025
Việt Nam được xếp vào nhóm các “điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu”, với hơn 300 loài thú đã được ghi nhận. Tuy nhiên, khu hệ thú đang chịu áp lực ngày càng lớn do mất và suy thoái sinh cảnh, khai thác quá mức và tác động của biến đổi khí hậu. Từ thực tế trên, nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tiến hành thực hiện “Nghiên cứu đa dạng của các loài thú nhỏ ở hệ sinh thái núi cao, hang động và núi đá vôi khu vực Bắc và Trung Việt Nam” (2024-2026) mã số ĐL0000.04/24–26 do PGS.TS. Nguyễn Trường Sơn làm chủ nhiệm.

Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá mức độ đe dọa, tính đặc hữu và phạm vi được bảo vệ của 329 taxon thú tại Việt Nam, đồng thời phân tích hiện trạng bảo tồn ex situ dựa trên cơ sở dữ liệu của hệ thống quản lý thông tin vườn thú toàn cầu (ZIMS). Kết quả cho thấy có 112 loài (chiếm 34%) đang bị đe dọa theo tiêu chí của IUCN, trong đó 36 loài đặc hữu và 9 loài đặc hữu hẹp. Phân tích không gian xác định các khu vực có giá trị bảo tồn cao gồm dãy Hoàng Liên, vùng Đông Bắc và dãy Trường Sơn kéo dài từ miền Trung đến Nam Bộ. Dữ liệu ex situ cho thấy 67 loài (60%) thú bị đe dọa được nuôi giữ tại các vườn thú trên thế giới, trong đó 89 loài (66%) ghi nhận có sinh sản thành công trong 12 tháng gần đây; tuy nhiên, chưa có loài nào thuộc nhóm “thiếu dữ liệu” (Data Deficient) được nuôi giữ hoặc bảo tồn. 


Ảnh: Các vùng sinh học địa lý của Việt Nam được sắp xếp theo giá trị độ cao từ cao nhất đến thấp nhất

Kết quả nghiên cứu cho thấy cần ưu tiên mở rộng các khu bảo tồn cho những loài bị đe dọa chưa được bao phủ, đồng thời rà soát lại nhóm loài thiếu dữ liệu. Việc thiết lập các hành lang sinh học giữa các khu bảo tồn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và duy trì tính kết nối sinh thái. Nghiên cứu đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng tiếp cận “One Plan” của IUCN, hướng đến sự phối hợp giữa bảo tồn in situex situ nhằm bảo vệ lâu dài khu hệ thú hoang dã của Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí uy tín về bảo tồn đa dạng sinh học Nature Conservation (Q2, IF 1.7; Citescore 3.6) của nhà xuất bản Pensoft.

Xem chi tiết bài báo tại đây. 


Cung cấp tin: PGS.TS. Nguyễn Trường Sơn - Phòng Động vật học, Viện Sinh học
Xử lý tin: Minh Tâm 

 

 



Tags:
Tin liên quan