Giải mã phóng xạ tự nhiên tại các bãi biển phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam

16/08/2026
Lần đầu tiên, các nhà khoa học xây dựng bức tranh toàn diện về phóng xạ tự nhiên tại các bãi biển phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ đánh giá an toàn môi trường ven biển và giúp cộng đồng hiểu đúng hơn về hiện tượng phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên.
Mỗi năm, hàng triệu lượt du khách tìm đến những bãi biển nổi tiếng như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò hay Lăng Cô để nghỉ dưỡng, tắm biển và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Những dải cát ven biển không chỉ tạo nên sức hút của du lịch mà còn góp phần bảo vệ đường bờ, nuôi dưỡng hệ sinh thái và mang lại sinh kế cho hàng triệu người dân thông qua các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ biển.
 
Ít người biết rằng, trong cát biển luôn tồn tại các chất phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên. Đây là một phần của môi trường tự nhiên, không phải dấu hiệu của ô nhiễm. Tuy nhiên, hàm lượng của chúng có thể khác nhau giữa các khu vực. Vì vậy, việc xác định sự phân bố và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chất phóng xạ tự nhiên là cơ sở quan trọng để bảo đảm an toàn môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phục vụ công tác quản lý vùng ven biển.
 
Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng cơ sở dữ liệu về phóng xạ tự nhiên tại các bãi biển nhằm phục vụ công tác quản lý môi trường, thì tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đất liền hoặc trầm tích đáy biển. Dữ liệu về trầm tích bãi biển, lớp cát và vật liệu tự nhiên được sóng, gió và sông ngòi bồi đắp theo thời gian, nơi con người tiếp xúc trực tiếp trong các hoạt động du lịch và sinh hoạt vẫn còn hạn chế.
 
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), do TS. Đặng Hoài Nhơn làm chủ nhiệm, đã triển khai đề tài “Đánh giá mức độ và ảnh hưởng phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển phía Bắc Việt Nam” (mã số VAST05.03/24-25). Nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển, nguy cơ đối với con người và sinh vật, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý môi trường, quy hoạch phát triển kinh tế biển và sử dụng bền vững tài nguyên ven bờ.
 
TS. Đặng Hoài Nhơn và cán bộ nghiên cứu khảo sát thực địa
 
Giải mã “dấu vân tay” của những hạt cát ven biển
 
Mỗi mẫu cát đều lưu giữ thông tin về nguồn gốc địa chất, thành phần khoáng vật và mức độ phóng xạ tự nhiên của khu vực. Khi được phân tích đồng thời, những dữ liệu này sẽ giúp phác họa bức tranh toàn diện về môi trường bãi biển.
 
Tháng 7/2024, nhóm nghiên cứu của TS. Đặng Hoài Nhơn đã thực hiện chuyến khảo sát và lấy mẫu tại 43 bãi biển kéo dài từ Trà Cổ (Quảng Ninh) đến Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Mỗi điểm khảo sát đều được lựa chọn theo quy trình thống nhất, lớp vật liệu bề mặt được làm sạch trước khi thu mẫu trầm tích nhằm bảo đảm kết quả phản ánh đúng đặc điểm của từng khu vực.
 
Sơ đồ vị trí thu mẫu trầm tích trên bãi biển
 
Nhớ lại quá trình lấy mẫu, TS. Đặng Hoài Nhơn cho biết: Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, nhóm phải liên tục di chuyển hàng trăm ki-lô-mét dọc bờ biển, mang theo thiết bị để lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển về phòng thí nghiệm. Công việc đòi hỏi sự chính xác ở từng thao tác và sự phối hợp nhịp nhàng của cả nhóm. Sau khi được đưa về phòng thí nghiệm, 43 mẫu trầm tích tiếp tục được phân tích bằng nhiều phương pháp hiện đại để xác định hoạt độ của các đồng vị phóng xạ tự nhiên, đồng thời phân tích thành phần cấp hạt và khoáng vật.
 
Kết quả cho thấy, trầm tích khu vực nghiên cứu chủ yếu gồm cát mịn và cát trung với thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh. Các phân tích cũng chỉ ra rằng, sự phân bố các chất phóng xạ tự nhiên không diễn ra ngẫu nhiên mà chịu ảnh hưởng chặt chẽ bởi thành phần khoáng vật và kích thước hạt cát. Những khu vực có nhiều khoáng vật sét và khoáng vật nặng thường có mức phóng xạ cao hơn, trong khi cát giàu thạch anh có xu hướng tích tụ ít hơn. Từ đó, nhóm đã xây dựng cơ sở dữ liệu có hệ thống đầu tiên về đặc điểm trầm tích và phóng xạ tự nhiên của các bãi biển miền Bắc Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên mối quan hệ giữa kích thước hạt trầm tích, thành phần khoáng vật và mức độ phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển phía Bắc Việt Nam được làm sáng tỏ.  
 
Theo TS. Đặng Hoài Nhơn, nhìn chung, mức phóng xạ tự nhiên và các chỉ số đánh giá rủi ro tại phần lớn các điểm khảo sát nằm trong giới hạn khuyến nghị của Ủy ban Khoa học Liên Hợp Quốc về Tác động của Bức xạ Nguyên tử (UNSCEAR). Kết quả cho thấy phần lớn các bãi biển trong khu vực nghiên cứu vẫn an toàn đối với con người và hệ sinh thái.
 
Theo ghi nhận của nhóm nghiên cứu, một số khu vực tại Thanh Hóa, Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), Nghệ An và Hà Tĩnh có mức phóng xạ và chỉ số rủi ro cao hơn giá trị trung bình toàn cầu.
 
Từ kết quả nghiên cứu đến cơ sở khoa học cho quản lý và phát triển bền vững
 
Giá trị của nghiên cứu không chỉ nằm ở việc bổ sung những dữ liệu khoa học còn thiếu về phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển mà còn ở khả năng ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn. Kết quả nghiên cứu giúp các cơ quan quản lý có thêm căn cứ khoa học để theo dõi môi trường ven biển, đánh giá nguy cơ tại từng khu vực và xây dựng các giải pháp quản lý phù hợp.
 
Đối với các địa phương ven biển, bộ dữ liệu của đề tài có thể được sử dụng trong công tác quy hoạch phát triển du lịch, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Những khu vực có mức phóng xạ tự nhiên cao hơn nền chung cần được quan trắc thường xuyên hơn, trong khi phần lớn các bãi biển còn lại có thể khai thác cho các hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản và phát triển kinh tế biển. Nghiên cứu cũng khuyến nghị việc sử dụng cát bãi biển làm vật liệu san lấp hoặc xây dựng cần được xem xét trên cơ sở các kết quả đánh giá khoa học, đặc biệt tại những khu vực có mức phóng xạ tự nhiên cao hơn nền chung.
 
Từ kết quả đề tài, nhóm đã công bố 3 bài báo trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE, một bài báo trên tạp chí khoa học trong nước. Nghiên cứu đã góp phần đào tạo thành công một nghiên cứu sinh và một học viên cao học, giúp bổ sung nguồn nhân lực khoa học trong lĩnh vực hải dương học, địa chất môi trường và an toàn bức xạ.
 
Đề tài được Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá cao. Hội đồng nhận định, nghiên cứu đã xây dựng được bộ dữ liệu khoa học mới về phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển phía Bắc Việt Nam, cung cấp những luận cứ có giá trị cho công tác đánh giá rủi ro môi trường, quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
 
Theo TS. Đặng Hoài Nhơn, kết quả của đề tài mới là bước khởi đầu trong quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu về phóng xạ tự nhiên cho các vùng biển Việt Nam. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng khảo sát tới các bãi biển phía Nam và các đảo ven bờ, đồng thời tăng cường quan trắc định kỳ để theo dõi sự biến động của phóng xạ tự nhiên dưới tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người. Việc từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu trên phạm vi cả nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên ven biển và phát triển kinh tế biển bền vững.
 
Tin: Vân Nga - Chu Ngân

 



Tags:
Tin liên quan