Biến đổi khí hậu và thay đổi lớp phủ bề mặt: Không gian sống của nhiều loài dơi ở Việt Nam có nguy cơ thu hẹp

19/09/2026
Đến năm 2050, phân bố và mức độ đa dạng của các loài dơi ở Việt Nam có thể biến đổi như thế nào dưới tác động đồng thời của biến đổi khí hậu và thay đổi lớp phủ bề mặt? Một nghiên cứu quy mô toàn quốc đã xây dựng bộ bản đồ hiện trạng và dự báo xu hướng phân bố, đa dạng loài, qua đó nhận diện những khu vực có nguy cơ suy giảm và đề xuất các vùng ưu tiên cho công tác bảo tồn.
Biến đổi khí hậu thường được nhận diện qua sự gia tăng nhiệt độ, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, một hệ quả quan trọng khác là sự biến đổi của sinh cảnh, khiến không gian sống của nhiều loài có thể dịch chuyển hoặc thu hẹp.
 
Cùng với mất rừng và những thay đổi nhanh chóng của lớp phủ bề mặt, các tác động này đang tạo sức ép ngày càng lớn lên đa dạng sinh học. Khi điều kiện sinh cảnh thay đổi, các loài phải thích nghi, dịch chuyển phạm vi phân bố hoặc đối mặt với nguy cơ suy giảm quần thể. Dơi là nhóm động vật giữ nhiều vai trò sinh thái quan trọng và nhạy cảm với biến đổi môi trường; vì vậy, những thay đổi trong phân bố và đa dạng của dơi có thể cung cấp thông tin hữu ích về biến động của hệ sinh thái.
 
Trong bối cảnh đó, đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và lớp phủ bề mặt đến sự phân bố và đa dạng của các loài dơi ở Việt Nam” (mã số KHCBTĐ.02/22-24), do TS. Trần Anh Tuấn, Viện Sinh học, chủ trì, đã được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phê duyệt và triển khai. Nghiên cứu hướng tới đánh giá hiện trạng phân bố và đa dạng các loài dơi trên phạm vi cả nước, đồng thời dự báo xu hướng biến đổi đến năm 2050 dưới tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, thay đổi lớp phủ bề mặt và sử dụng đất.
 

 
TS. Trần Anh Tuấn và thành viên nhóm nghiên cứu tại thực địa.
 
Từ dữ liệu thực địa đến bản đồ đa dạng dơi Việt Nam
 
Để đánh giá đa dạng và phân bố của các loài dơi ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu tích hợp nhiều nguồn dữ liệu: các kết quả nghiên cứu đã công bố, dữ liệu khảo sát thực địa bổ sung tại những vùng sinh thái tiêu biểu, các điểm ghi nhận phân bố loài, cùng các lớp dữ liệu về sinh khí hậu, địa hình, địa chất, lớp phủ bề mặt và sử dụng đất.
 
Bốn đợt khảo sát thực địa được triển khai tại các vùng sinh thái đặc trưng thuộc Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Hàng trăm cá thể thuộc nhiều loài dơi đã được ghi nhận, bổ sung nguồn dữ liệu thực địa quan trọng cho quá trình xây dựng, hiệu chỉnh và kiểm chứng mô hình phân bố loài.
 
Trên cơ sở dữ liệu tổng hợp, nhóm nghiên cứu ứng dụng Hệ thông tin địa lý (GIS) và mô hình phân bố loài (SDM) để xây dựng bộ dữ liệu không gian cho 81 loài dơi ở Việt Nam. Kết quả cho thấy mức độ đa dạng dơi phân hóa rõ theo điều kiện địa lý, địa hình và sinh cảnh. Các khu vực có mức độ đa dạng cao tập trung chủ yếu ở dải Trường Sơn, Bắc Trung Bộ và vùng núi đá vôi Đông Bắc; trong khi các vùng đồng bằng và một số khu vực Nam Bộ có mức độ đa dạng thấp hơn.
 
Quy trình tích hợp dữ liệu không gian và mô hình phân bố loài
 
Theo TS. Trần Anh Tuấn, trong khuôn khổ đề tài, lần đầu tiên một nghiên cứu ở quy mô toàn quốc xây dựng mô hình phân bố các loài dơi có xem xét đồng thời tác động của biến đổi khí hậu, thay đổi lớp phủ bề mặt, sử dụng đất và các yếu tố sinh thái liên quan. Dữ liệu được chuẩn hóa theo định dạng không gian đồng bộ, tạo cơ sở để tiếp tục khai thác cho nghiên cứu và quy hoạch bảo tồn. Đề tài đã xây dựng bộ bản đồ đa dạng dơi ở Việt Nam gồm một bản đồ hiện trạng và hai bản đồ dự báo đến năm 2050 theo kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình (RCP 4.5) và cao (RCP 8.5). Việc so sánh các kịch bản cho phép nhận diện xu hướng biến đổi tiềm năng của đa dạng loài trong những điều kiện khí hậu khác nhau.
   
Bản đồ hiện trạng đa dạng dơi Việt Nam năm 2025
 
Bản đồ dự báo đa dạng loài dơi ở Việt Nam năm 2050
theo kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình (RCP-4.5)
Bản đồ dự báo đa dạng loài dơi ở Việt Nam năm 2050
theo kịch bản phát thải khí nhà kính cao (RCP-8.5)
 
Từ “điểm nóng” đa dạng đến những vùng ưu tiên bảo tồn
 
Bản đồ hiện trạng cho thấy các khu vực có giá trị đa dạng dơi nổi bật tập trung chủ yếu tại vùng núi đá vôi Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, dải Trường Sơn và một phần Tây Nguyên. Ngược lại, các vùng đồng bằng, ven biển và những khu vực chịu tác động mạnh của đô thị hóa thường có mức độ đa dạng thấp hơn.
 
Các mô hình dự báo đến năm 2050 cho thấy phạm vi sinh cảnh phù hợp của các loài dơi ở Việt Nam có thể thay đổi đáng kể khi khí hậu tiếp tục biến đổi và sinh cảnh tự nhiên chịu thêm sức ép. Phần lớn các loài được mô hình dự báo có xu hướng thu hẹp phạm vi phân bố tiềm năng ở những mức độ khác nhau, đặc biệt khi biến đổi khí hậu diễn ra đồng thời với thay đổi lớp phủ bề mặt và sử dụng đất.
 
Kết quả giữa hai kịch bản cho thấy mức độ tác động không giống nhau. Cả hai đều thể hiện xu hướng suy giảm sinh cảnh phù hợp, song ở kịch bản phát thải cao, mức độ thu hẹp được dự báo rõ hơn, đặc biệt đối với các loài phụ thuộc chặt chẽ vào rừng tự nhiên.
 
Theo TS. Trần Anh Tuấn, hiệu quả bảo tồn không chỉ phụ thuộc vào việc mở rộng diện tích các khu bảo tồn mà còn ở khả năng xác định đúng những khu vực có giá trị sinh thái cao để ưu tiên bảo vệ. Kết quả phân tích cho thấy, nếu ưu tiên khoảng 9% diện tích đất liền cho các khu vực có giá trị bảo tồn cao, có thể bảo vệ hiệu quả 58 loài, tương đương 71,6% số loài được nghiên cứu. Khi diện tích ưu tiên tăng lên 30%, tỷ lệ này có thể đạt 87,6%. Kết quả cho thấy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu không gian có thể hỗ trợ nâng cao hiệu quả quy hoạch bảo tồn và phân bổ hợp lý nguồn lực trong quản lý đa dạng sinh học.
 
Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng nhiều khu vực có mức độ đa dạng dơi cao đang chịu sức ép ngày càng lớn, trong khi mạng lưới khu bảo tồn hiện có chưa bao phủ đầy đủ sinh cảnh của nhiều loài. TS. Trần Anh Tuấn cho rằng bảo tồn dơi cũng gắn liền với bảo vệ rừng, hệ thống hang động và các hệ sinh thái mà chúng phụ thuộc. Vì vậy, bên cạnh các khu bảo tồn hiện có, cần ưu tiên gìn giữ và phục hồi rừng tự nhiên, duy trì sinh cảnh, bảo vệ hang động và tăng cường theo dõi những khu vực có nguy cơ biến đổi.
 
Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao các kết quả của đề tài. Bộ bản đồ và cơ sở dữ liệu được xây dựng có thể hỗ trợ công tác quy hoạch, xây dựng hành lang đa dạng sinh học và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Kết quả nghiên cứu cũng đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế như Biodiversity and Conservation, PLoS One và Molecular Ecology.
 
Kết quả của đề tài cho thấy bảo tồn dơi cần được tiếp cận chủ động, dựa trên dữ liệu về phân bố hiện tại đồng thời tính đến xu hướng biến đổi của khí hậu và sinh cảnh trong tương lai. Bộ bản đồ và cơ sở dữ liệu không gian là nguồn thông tin có giá trị để nhận diện khu vực ưu tiên, hỗ trợ xây dựng các giải pháp bảo tồn phù hợp trước tác động của biến đổi khí hậu và thay đổi sinh cảnh.
 
Vân Nga - Chu Ngân


Tags:
Tin liên quan