Thông tin Đề tài

Tên đề tài Phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc hạng II về nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu các bon nanô tích hợp với một số vật liệu liên quan
Mã số đề tài NCXS02.03/24-25
Cơ quan chủ trì (Cơ quan thực hiện) Viện Khoa học Vật liệu
Thuộc Danh mục đề tài Nhiệm vụ phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc
Họ và tên PGS. TS. Nguyễn Văn Chúc
Thời gian thực hiện 01/01/2024 - 31/12/2025
Tổng kinh phí Kinh phí được phê duyệt: 2.000.000.000 VNĐ. Kinh phí cấp thực tế: 1.863.816.000 VNĐ
Xếp loại Đạt loại A
Mục tiêu đề tài

- Mục tiêu tổng quát
Xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc về một số vật liệu các bon nanô và vật liệu liên quan (ống nanô các bon (CNTs), graphene (Gr), nitrua bo (hBN)…) hướng đến mục tiêu là một trong những nhóm nghiên cứu hàng đầu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về nghiên cứu, phát triển công nghệ, triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu, đào tạo nhân lực chất lượng cao đạt trình độ khu vực và quốc tế về một số vật liệu các bon nanô và vật liệu liên quan (CNTs, Gr, hBN…).
- Mục tiêu cụ thể
+ Làm chủ công nghệ tổng hợp và chức năng hóa bề mặt vật liệu các bon nanô với nanô kim loại.
+ Định hướng ứng dụng của vật liệu các bon nanô và vật liệu liên quan trong một số lĩnh vực: cảm biến nhằm xác định nồng độ và đánh giá khả năng quang xúc tác phân hủy các chất độc hại; linh kiện quang điện tử và quản lý nhiệt cho các linh kiện điện tử; trong lớp phủ composite và tích trữ năng lượng.
+ Góp phần đào tạo và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học vật liệu nói chung, về vật liệu các bon nanô nói riêng.

Kết quả chính của đề tài

(1) Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu các tiến bộ về chế tạo và ứng dụng vật liệu các bon nanô và vật liệu liên quan trong cảm biến, quang xúc tác phân hủy chất độc hại, trong quản lý nhiệt, trong lớp phủ composite và trong tích trữ năng lượng, đã lựa chọn được phương pháp chế tạo, chức năng hóa bề mặt và ứng dụng những loại vật liệu này phù hợp với điều kiện trong nước và đảm bảo những tính mới có giá trị khoa học và thực tiễn cao.
(2) Bằng phương pháp CVD nhiệt, đã chế tạo thành công vật liệu CNTs đa tường, CNTs hai tường, vật liệu màng Gr dạng xốp, vật liệu tổ hợp Gr-CNTs, tổ hợp Gr-CNTs/Au; tổ hợp Gr/CNTs/hBN. Bằng phương pháp hóa học, đã tổng hợp và chức năng hóa thành công vật liệu CNTs với nhóm chức COOH, vật liệu Gr với nhóm chức COOH, vật liệu hBN với các nhóm chức khác nhau (OH, NH2 và Alkyl), vật liệu tổ hợp CNTs, Gr với nanô kim loại Au và Ag; vật liệu tổ hợp hBN với nanô kim loại Au.
(3) Đã chế tạo, thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu các bon nanô và vật liệu liên quan trong cảm biến điện hóa và trong quang xúc tác, cụ thể:
Trong cảm biến điện hóa: Đã chế tạo và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu tổ hợp Gr-CNTs/Au và vật liệu tổ hợp Gr/CNTs/hBN trong cảm biến điện hóa nhằm xác định nồng độ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Kết quả nghiên cứu cho thấy: cảm biến xác định nồng độ FNT trên cơ sở sử dụng vật liệu tổ hợp Gr/CNTs/AuNPs/PANi có giới hạn phát hiện (LOD) thấp, cỡ 1,35 x 10-3 ppb. Giá trị độ lệch chuẩn tương đối (RSD) được tính là 4,42%; Cảm biến xác định nồng độ DDVP trên cơ sở sử dụng vật liệu tổ hợp Gr/CNTs/hBN/APTES có giới hạn phát hiện LOD thấp, cỡ 1,02×10-4 ppb và RSD của cảm biến được xác định là 1,63%. Kết quả cho thấy tiềm năng ứng dụng những loại vật liệu tổ hợp này trong cảm biến điện hóa xác định nồng độ thấp dư lượng thuốc BVTV.
Trong quang xúc tác: Đã chế tạo và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu tổ hợp Gr với TiO2, vật liệu tổ hợp Gr-hBN với TiO2 và vật liệu tổ hợp C-MoS2 với TiO2 trong quang xúc tác phân hủy các chất độc hại. Kết quả nghiên cứu cho thấy: dưới bức xạ của đèn chiếu UV (254 nm), trong thời gian chiếu 80 phút, vật liệu 3D TiO₂@Gr có khả năng phân hủy chất màu RhB với hiệu suất lên tới 98,5%, tốc độ phân hủy k = 0,069 min-1; vật liệu tổ hợp 3D TiO2@rGO-hBN có khả năng phân hủy quang xúc tác MB với hiệu suất đạt ~97%, tốc độ phân hủy k = 0,046 min-1; Dưới sự chiếu sáng của đèn UV bước sóng 365 nm, công suất đèn 3W trong thời gian 45 phút chiếu, vật liệu C-TiO2-MoS2 có khả năng phân hủy MB tốt nhất với hiệu suất phân hủy đạt 99,6%, tốc độ phân hủy k = 0,128 min-1. Các kết quả này chứng minh tiềm năng ứng dụng của vật liệu các loại vật liệu tổ hợp trên trong lĩnh vực quang xúc tác phân hủy các chất độc hại.
(4) Đã nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu CNTs, graphene và hBN trong vật liệu dẫn nhiệt, cụ thể:
Với kem tản nhiệt: Đã chế tạo thành công và đánh giá khả năng tản nhiệt trên thiết bị CPU của 06 loại kem tản nhiệt silicon, bao gồm: kem tản nhiệt silicon chứa CNTs, Gr, hBN, CNTs/Ag, Gr/Ag và hBN/Ag. Kết quả nghiên cứu cho thấy: so với kem tản nhiệt silicon, nhiệt độ CPU giảm khoảng 4°C với kem tản nhiệt chứa 1 %wt. Gr và giảm khoảng 5°C với mẫu kem tản nhiệt chứa 1% Gr/Ag. 
Với chất lỏng tản nhiệt: Đã chế tạo thành công và đánh giá khả năng tản nhiệt trên đèn pha LED của 06 loại chất lỏng tản nhiệt, bao gồm: chất lỏng tản nhiệt DW/EG chứa CNTs, Gr, hBN, CNTs/Ag, Gr/Ag và hBN/Ag. Kết quả nghiên cứu cho thấy: so với chất lỏng tản nhiệt DW/EG, chất lỏng DW/EG chứa 1%Gr cho hiệu quả tản nhiệt tốt và nhiệt độ chíp LED giảm khoảng 3°C. Đặc biệt với chất lỏng tản nhiệt DW/EG/Gr/Ag cho hiệu quả tản nhiệt tốt và nhiệt độ của chíp LED giảm khoảng 4oC so với chất lỏng tản nhiệt chỉ DW/EG. Kết quả này khẳng định tiềm năng ứng dụng thực tế của vật liệu Gr, Gr/Ag trong kem tản nhiệt cho linh kiện điện tử, trong các hệ thống làm mát tuần hoàn cho thiết bị điện tử công suất lớn như đèn pha LED.
(5) Đã nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu các bon nano và vật liệu liên quan trong lớp phủ composite, cụ thể:
Với lớp phủ composite Ni/MWCNTs: Đã chế thành công dung dịch mạ điện và lớp phủ composite Ni/MWCNTs. Kết quả nghiên cứu cho thấy các sợi MWCNTs phân bố đều trong mạng nền Ni. Việc đưa vật liệu MWCNTs (0,15 g/L) đã giúp cải thiện rõ rệt tính chất cơ của vật liệu nền. Lớp phủ composite đạt độ cứng trung bình 215 HV, cao hơn ~15% so với lớp Ni thuần (187 HV). 
Với lớp phủ composite Ni/GO: Đã chế thành công dung dịch mạ điện và lớp phủ composite Ni/GO. Kết quả nghiên cứu cho thấy các tấm GO phân bố đều trong mạng nền Ni. Việc đưa vật liệu GO đã giúp cải thiện rõ rệt tính chất cơ của vật liệu nền. Lớp phủ composite (Ni/GO (0,15 g/L)) đạt độ cứng trung bình 244 HV và đặc biệt lớp phủ composite (Ni/GO (0,30 g/L)) đạt độ cứng trung bình ~ 270 HV, cao hơn ~44% so với lớp Ni thuần (187 HV).
Với lớp phủ composite Ni/hBN: Đã chế thành công dung dịch mạ điện và lớp phủ composite Ni/hBN. Việc đưa vật liệu hBN đã giúp cải thiện rõ rệt tính chất cơ của vật liệu nền. Lớp phủ composite Ni/hBN (0,2 g/L) đạt độ cứng trung bình 255 HV, cao hơn ~36% so với lớp Ni thuần (187 HV).
(6) Đã chế tạo và đánh giá khả năng ứng dụng của vật liệu các bon nano và hBN trong linh kiện điện và điện tử, cụ thể:
Tích trữ năng lượng: So với vật liệu điện cực sử dụng graphite, graphene bóc tách và rGO, vật liệu điện cực sử dụng CNTs-Si@C thể hiện sự vượt trội rõ rệt về khả năng lưu trữ lithium. Dung lượng xả ở chu kỳ đầu đạt tới ~1600 mAh/g, trong khi dung lượng thuận nghịch duy trì ở khoảng ~600 mAh/g sau nhiều chu kỳ, cao gấp nhiều lần so với điện cực chỉ sử dụng MWCNT. Hiệu suất Coulomb tiến tới gần 100% ngay từ những chu kỳ đầu, cho thấy quá trình lithi hóa/delithi hóa diễn ra thuận nghịch và ổn định. Với pin lithium thể rắn LFP|CPE|Li sử dụng PEO/B-OH1.2 có chu kỳ ổn định dài hạn trên 800 giờ với mật độ dòng điện là 0,1 và 0,2 mA cm-2. Pin LFP|PEO/BOH1.2|Li duy trì khoảng 120 mAh.g-1 sau 100 chu kỳ ở 0,5 C và 50 oC với hiệu suất Coulomb đạt 98-100%. Việc sử dụng các tấm nano B-OH giúp cân bằng giữa độ dẫn ion và độ ổn định điện hóa, cũng như độ bền các cells.
Màng mỏng dẫn điện: Với màng chứa vật liệu lai PEDOT :PSS/Gr-CNT cho thấy độ truyền qua tốt khoảng 85%, điện trở bề mặt thấp nhất là 105 Ω/sq và đạt hệ số phẩm chất cao nhất là Φ = 18,69 × 10⁻³ Ω⁻¹ khi nồng độ Gr-CNT là 0,6%. Với màng chứa PEDOT:PSS/GO-AgNP, độ truyền qua đạt khoảng 70% và điện trở bề mặt đạt khoảng 109 Ω/sq.

 

Những đóng góp mới

1) Làm chủ được công nghệ tổng hợp, chức năng hóa bề mặt vật liệu các bon nano (graphene (Gr), CNTs)) và vật liệu liên quan (hBN) với nano kim loại Au, Ag.
     2) Bằng phương pháp CVD nhiệt, đã tổng hợp thành công 02 loại vật liệu tổ hợp Gr-CNTs/AuNPs, Gr/CNTs/hBN cấu trúc xốp với độ dẫn điện tốt và diện tích bề mặt hoạt hóa điện hóa cao. Các màng vật liệu tổ hợp cấu trúc xốp này đã được ứng dụng trong cảm biến điện hóa xác định nồng độ một số dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (FNT, DDVP). Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm biến điện hóa xác định nồng độ FNT trên cơ sở vật liệu tổ hợp Gr/CNTs/AuNPs/PANi có giới hạn phát hiện (LOD) thấp, cỡ 1,35 x 10-3 ppb. Cảm biến xác định nồng độ DDVP trên cơ sở sử dụng vật liệu tổ hợp Gr/CNTs/hBN/APTES có giới hạn phát hiện LOD thấp, cỡ 1,02×10-4 ppb. 
     3) Bằng phương pháp thủy nhiệt, kết hợp với phương pháp CVD nhiệt đã tổng hợp thành công vật liệu tổ hợp ba chiều TiO2@Gr dạng cầu gai cấu trúc lõi@vỏ và sử dụng vật liệu tổ hợp này như là đế tán xạ Raman tăng cường mặt mặt (SERS) và đánh giá khả năng  phân hủy quang xúc tác một số chất độc hại (RhB, MB). Cơ chế SERS và phân hủy quang xúc tác của vật liệu cũng được làm rõ. 
      4) Đã tổng hợp và đánh giá khả năng tản nhiệt của kem tản nhiệt và chất lỏng tản nhiệt chứa vật liệu Gr, CNTs, hBN và tổ hợp của chúng với các nano kim loại Ag trong tản nhiệt cho linh kiện điện tử như bộ vi xử lý máy tính CPU và trong chíp LED. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ CPU giảm khoảng 4°C với kem tản nhiệt silicon chứa 1 %wt. Gr-COOH và giảm khoảng 5°C với mẫu kem tản nhiệt chứa 1% Gr-COOH/Ag. Hệ số dẫn nhiệt của chất lỏng tản nhiệt DW và EG chứa 0,05% Gr-CNTs/Ag đã cải thiện, tăng lên 38% và 52% ở nhiệt độ 55oC. Cơ chế và tính toán lý thuyết liên quan đến vật liệu tản nhiệt cũng đã được làm rõ. 
     5) Làm rõ ảnh hưởng của từng loại vật liệu (CNT, Gr, hBN) thông qua so sánh có hệ thống và trực tiếp giữa ba hệ lớp phủ composite nền Ni. Xác định được hệ vật liệu gia cường tối ưu cho lớp phủ Ni dưới cùng điều kiện công nghệ. Xây dựng được mối quan hệ định lượng giữa hàm lượng vật liệu nano-cấu trúc hình thái-tính chất cơ học của lớp phủ, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa lớp phủ composite. Kết quả nghiên cứu cho thấy lớp phủ Ni/GO (0,30 g/L) cho kết quả tốt nhất với độ cứng trung bình ~ 270 HV, cao hơn ~44% so với lớp Ni thuần (187 HV).  
     6) Đã nghiên cứu chế tạo, khảo sát và đánh giá hoạt tính điện hóa của pin lithium trên cơ sở sử dụng vật liệu các bon nano và hBN. Với pin lithium thể rắn LFP|CPE|Li sử dụng PEO/B-OH1.2 có chu kỳ ổn định dài hạn trên 800 giờ với mật độ dòng điện là 0,1 và 0,2 mA cm-2. Pin LFP|PEO/BOH1.2|Li duy trì khoảng 120 mAh.g-1 sau 100 chu kỳ ở 0,5 C và 50 oC với hiệu suất Coulomb đạt 98-100%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng của những loại vật liệu này trong tích trữ năng lượng. Đồng thời cũng đã đánh giá khả năng dẫn điện của màng mỏng dẫn điện trên cơ sở sử dụng vật liệu các bon với nano kim loại Ag nhằm hướng tới ứng dụng trong linh kiện quang điện tử. 
     7) Các kết quả chính của Nhiệm vụ được công bố trong 04 bài báo quốc tế có chất lượng Q1, IF ≥ 4,6; 03 bài báo quốc tế có chất lượng Q2, IF =2,7; 01 bản thảo bài báo đang trong quá trình chỉnh sửa để được chấp nhận đăng trên tạp chí quốc tế có chất lượng Q1. 03 báo cáo invited talk/oral/poster tại hội nghị quốc gia; 01 sáng chế chấp nhận đơn; đào tạo thành công 01 nghiên cứu sinh và 01 thạc sĩ; tham gia đào tạo 02 nghiên cứu sinh. 
     8) Góp phần nâng cao tầm vóc cho sự phát triển của nhóm nghiên cứu, cụ thể đóng góp thêm 02 Phó giáo sư; mở rộng hợp tác nghiên cứu, đào tạo chặt chẽ và sâu rộng với một số nhóm nghiên cứu, nhà khoa học uy tín quốc tế và trong nước thuộc: Đại học Osaka, Nhật Bản; Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên; Học viện Khoa học và Công nghệ (GUST); Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH).

*** Sản phẩm cụ thể giao nộp:

- Các sản phẩm nghiên cứu và phát triển công nghệ 
+ 01 quy trình chế tạo vật liệu tổ hợp CNTs với nano kim loại.
+ 01 quy trình chế tạo vật liệu tổ hợp Gr với nano kim loại.
- Các bài báo đã công bố: 07 bài báo đã đăng, bao gồm 04 bài xếp hạng Q1 và có chỉ số ảnh hưởng IF ≥ 4,6; 03 bài xếp hạng Q2 và có chỉ số ảnh hưởng IF=2,7; 01 bài đang trả lời phản biện đăng trên tạp chí Q1; 01 bài viết đăng trong Kỷ yếu Hội nghị và 03 báo cáo tại Hội nghị khoa học Quốc gia.

Danh mục cụ thể như sau:

[1]    Nguyen Thi Huyen, Tran Ai Suong Suong, Cao Thi Thanh, Pham Van Trinh, Nguyen Van Tu, Bui Hung Thang, Tran Van Hau, Pham Thanh Binh, Vu Duc Chinh, Pham Van Hai, Vu Xuan Hoa, Tran Van Tan, Phan Ngoc Minh, Hiroya Abe, and Nguyen Van Chuc*, A new and facile preparation of 3D urchin-like TiO2@graphene core@shell SERS substrates for photocatalytic degradation of RhB, Materials Advances 6 (2025) 2691-2700, Q1, IF=4,7.
[2]    Nguyen Thi Huyen, Tran Ai Suong Suong, Cao Thi Thanh, Nguyen Van Tu, Pham Van Trinh, Tran Van Tan, Le Thi Quynh Xuan, Bui Hung Thang, Tran Van Hau, Do Tuan, Pham Duy Long, Phan Ngoc Minh, Hiroya Abe, and Nguyen Van Chuc*, Efficient photocatalytic degradation of 3D urchin-like TiO2@rGO-hBN architecture towards methylene blue, RSC Advances 15 (2025) 10754-10762, Q1, IF= 4,6.
[3]    Thi Huyen Nguyen, Tien Dung Cao, Thi Phuong Mai, Van Hau Tran, Van Trinh Pham, Van Chuc Nguyen, Van Nhat Pham, Viet Tiep Phung, Ngoc Minh Phan, Van Tan Tran, Van Hao Nguyen, Huy Tiep Nguyen, Van Tu Nguyen*, Facile synthesis of C-TiO2-MoS2 nanocomposite based on commercial TiO2 nanopowder for photodegradation of methylene blue, RSC Advances 15 (2025) 25548-25559, Q1, IF=4,6.
[4]    Pham Van Trinh, Nguyen Ngoc Anh, Mai Thi Phuong, Nguyen Van Tu, Tran Van Hau, Do Tuan, Nguyen Thi Huyen, Cao Thi Thanh, Nguyen Van Hao, Mone Phommahaxay, Nguyen Thi Ngoc Mai, Phan Ngoc Hong, Phan Ngoc Minh, Bui Hung Thang*, Nguyen Van Chuc*, Experimental study on the thermal conductivity of graphene-carbon nanotube-silver nanoparticle ternary hybrid nanofluids, RSC Advances 16 (2026) 3753, Q1, IF=4,6.
[5]    Cao Thi Thanh, Nguyen Thi Huyen, Vu Thi Thu, Pham Van Trinh, Nguyen Van Tu, Bui Hung Thang, Tran Van Hau, Do Tuan, Mai Thi Phuong, Pham Thanh Binh, Phan Ngoc Minh, Hiroya Abe, Nguyen Van Chuc*, Improved electrochemical sensor based on 3D porous Gra-DCNTs-AuNPs-PANi hybrid film for fenitrothion detection, Materials Letters 386 (2025) 138209, Q2, IF=2,7.
[6]    Cao Thi Thanh, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Van Tu, Pham Van Trinh, Bui Hung Thang, Tran Van Hau, Nguyen Van Chuc*, G/DCNTs/hBN/APTES: A novel nanocomposite for development of dichlorvos electrochemical sensor, Materials Letters 399 (2025) 13905, Q2, IF=2,7.
[7]    Mai Thi Phuong, Nguyen Van Tu, Tran Van Hau, Do Tuan, Nguyen Thi Huyen, Cao Thi Thanh, Hoang Anh Son, Phan Ngoc Minh, Nguyen Van Chuc, Pham Van Trinh, Bui Hung Thang*, Impact of carboxyl functionalization on the thermal interface material-based silicone thermal grease containing graphene, Materials Letters 400 (2025) 139155, Q2, IF=2,7.
[8]    Tran Van Hau, Dinh Trong Thang, Nguyen Binh An, Cao Thi Thanh, Pham Van Trinh, Bui Hung Thang, Nguyen Van Chuc, Phan Ngoc Minh, Doan Dinh Phuong, Nguyen Van Tu*, Hydrogen-bonding-enhanced boron nitride nanosheets/polyethylene oxide composite polymer electrolyte for high-voltage solid-state lithium metal batteries, Journal of Energy Storage. Submitted 19/10/2025 and under view.
[9]    Đỗ Tuân, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Văn Tú, Trần Văn Hậu, Cao Thị Thanh, Bùi Hùng Thắng, Phạm Văn Nhất, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Thị Xiêm, Nguyễn Văn Chúc*, Phan Ngọc Minh, Phạm Văn Trình, Chế tạo và đặc trưng các tính chất của màng mỏng trong suốt dựa trên cấu trúc lai vật liệu nano cacbon-poly(3,4-ethylene dioxythiophene):poly(styrene sulfonate), báo cáo Oral và bài viết toàn văn tại Hội nghị SPMS 2025.
[10]    Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Văn Tú, Cao Thị Thanh, Phạm Văn Trình, Đỗ Tuân, Trần Văn Hậu, Bùi Hùng Thắng, Phan Ngọc Minh, Hiroya Abe, Nguyễn Văn Chúc*, Fabrication and evaluation of photocatalytic degradation of two-dimensional (2D)/TiO2 nanocomposite, Báo cáo mời tại Hội nghị SPMS 2025.
[11]    Cao Thi Thanh, Nguyen Thi Huyen, Nguyen Van Tu, Pham Van Trinh, Bui Hung Thang, Tran Van Hau, Do Tuan, Phan Ngoc Minh and Nguyen Van Chuc*, Fabrication and application of 3D carbon nanocomposite for electrochemical sensor for detection of fenitrothion, Báo cáo treo tại Hội nghị SPMS 2025

- Sở hữu trí tuệ: 01 đơn đăng ký Sáng chế được chấp nhận hợp lệ. Số đơn: 1-2025-05542, ngày nộp đơn: 01/08/2025, ngày chấp nhận đơn: 28/8/2025. Tên Sáng chế: Quy trình chế tạo kem tản nhiệt dựa trên tổ hợp vật liệu lai h-BN với hạt nano bạc. Tác giả: Bùi Hùng Thắng, Mai Thị Phượng, Phạm Văn Trình, Nguyễn Văn Chúc, Nguyễn Thanh Hải, Lê Tuấn Anh, Cao Thị Thanh, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Thị Vân Anh, Trần Văn Hậu, Tạ Hải Phong, Đỗ Tuân, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thị Huyền, Phan Ngọc Minh.
- Sản phẩm đào tạo: Hỗ trợ đào tạo 01 NCS bảo vệ thành công LATS cấp cơ sở và 02 NCS đang thực hiện luận án; đào tạo thành công 01 học viên cao học (đã nhận bằng thạc sĩ).

 

 

Kiến nghị

+ Nhiệm vụ đã thực hiện đúng tiến độ và hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra. Một số nội dung đạt được vượt mức so với thuyết minh. Chủ nhiệm Nhiệm vụ kính đề nghị Viện Hàn lâm KHCNVN cho phép được nghiệm thu Nhiệm vụ.
+ Đề nghị Viện Hàn lâm KHCNVN xem xét tạo điều kiện tiếp tục quan tâm, đầu tư kinh phí để phát triển sâu hơn các hướng nghiên cứu đã đạt được từ Nhiệm vụ, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cao năng lực công bố quốc tế, mở rộng hợp tác khoa học trong và ngoài nước, cũng như thúc đẩy khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

 

Ảnh nổi bật đề tài
1773199304296-12 Nguyễn Văn Chúc.png