| Kết quả chính của đề tài |
- Về khoa học: a) Trong số 10 khu vực bãi cạn, đồi ngầm nghiên cứu, chỉ có 9 khu vực gồm Bãi Cạn Lớn, Bãi Cạn Thủy Triều, Vịnh Phan Rang, Bãi Cạn Breda, Rạn Cả-Hollandias, De Britto, De L'Astrolabe, Bishop và Catwick có sự hiện diện của rạn san hô với diện tích khoảng 17.257 ha (gấp 1,2 lần diện tích rạn ven bờ và ven đảo), còn cụm bãi cạn khu vực V phía Nam Mũi La Gàn (Pecheurs, Banc Amazons, Duchaffaut, Bourayne) không tồn tại rạn san hô; b) Với 713 taxa thuộc 392 giống, 207 họ, 86 bộ và 19 lớp của 7 nhóm sinh vật chủ yếu bước đầu được ghi nhận cho thấy khu hệ sinh vật rạn tại các bãi cạn, đồi ngầm và đảo xa bờ trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam có tính đa dạng loài không cao, tuy nhiên có sự khác biệt khá lớn về tính chất thành phần loài giữa rạn san hô trên bãi cạn, đồi ngầm và ven đảo xa bờ. Tình trạng rạn san hô tại các bãi cạn, đồi ngầm đang bị suy thoái với độ phủ san hô sống thấp và rong lớn rất cao, nguồn lợi cá và động vật đáy lớn có giá trị đã bị khai thác cạn kiệt góp phần làm giảm tính đa dạng của khu hệ sinh vật tại các khu vực này. Các khu vực rạn còn duy trì tính đa dạng, độ phủ san hô sống và mật độ nguồn lợi có giá trị cao gồm: De Britto, De L'Astrolabe, Bishop, Côn Đảo. c) Mức độ bổ sung san hô non mới định cư tại các bãi cạn, đồi ngầm và đảo xa bờ chủ yếu là các giống Acropora, Favites, Favia, Platygyra, Porites, Sinularia và Sarcophyton, trong khi đó chỉ có 5/16 loài của họ cá bướm có bổ sung. Mức độ bổ sung san hô non và cá bướm thấp hơn rất nhiều so với rạn ven bờ và ven đảo. Các khu vực có mức bổ sung cao tại Bãi Cạn Thủy Triều, Vịnh Phan Rang, Bãi Cạn Breda và Côn Đảo so với Hollandias, De Britto, De L'Astrolabe và Bishop; d) Với 37 taxa thuộc 28 họ của 3 nhóm giáp xác, thân mềm và giun nhiều tơ đã được ghi nhận tại 8 trạm khảo sát cho thấy quần xã động vật đáy mềm vùng nước sâu ngoài khơi từ Ninh Thuận đến Côn Đảo kém đa dạng hơn so với khu vực phía Bắc (Quảng Ninh-Quảng Ngãi). Tính đa dạng loài giảm theo độ sâu, trong đó ở độ sâu <100m chiếm nhiều nhất (22 taxa), kế đến ở 100-200m (18) và thấp nhất > 200m (4), riêng loài giáp xác Metapenaeopsis sp. (họ Penaeidae) có phân bố rộng ở độ sâu từ 84-265m. Giáp xác là nhóm chiếm ưu thế số lượng cá thể tại tất cả các điểm thu mẫu (≥ 93% tổng số cá thể động vật đáy); e) Hàm lượng CaCO3, độ xốp và độ bền nén san hô khối Porites không có sự khác đáng kể giữa các điểm rạn thu mẫu, trừ độ kết tinh. Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ ràng hàm lượng CaCO3, độ xốp và độ kết tinh giữa các lát cắt tại từng điểm và giữa các điểm thu mẫu, trừ độ bền nén. Điều này cho thấy không có sự khác biệt về hàm lượng CaCO3, độ xốp và độ bền nén của san hô khối Porites theo không gian, nhưng khác đáng kể theo thời gian giữa các năm. - Về ứng dụng: Kết quả của chuyến khảo sát thu thập nhiều mẫu vật và số liệu về tình trạng đa dạng sinh học rạn san hô tại các bãi cạn, đồi ngầm và đảo xa bờ cùng với vùng đáy mềm nước sâu phía Nam Việt Nam góp phần khẳng định và cung cấp những hiểu biết đầy đủ hơn giá trị đa dạng sinh học trong vùng Biển Đông, đặc biệt giá trị đa dạng sinh học tại các bãi cạn, đồi ngầm chưa được nghiên cứu trước đây. Với việc sử dụng một số phương pháp thu mẫu và phân tích hiện đại (eDNA/DNA metabarcoding) góp phần bổ sung đầy đủ hơn về giá trị đa dạng sinh học và chính xác hóa công tác định loại đối với một số nhóm loài sinh vật, đặc biệt hải miên, thân mềm, giáp xác và cá rạn. Mặc khác, những kết quả đánh giá tại các bãi cạn, đồi ngầm trong khuôn khổ của Hợp phần 2 có thể được xem là nghiên cứu đầu tiên về đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật đối với các bãi cạn, đồi ngầm ở Việt Nam, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và định hướng xây dựng các phương án bảo tồn và sử dụng hợp lý hơn tài nguyên tại các khu vực này trong thời gian tới. Cùng với đó, Hợp phần 2 cung cấp bộ 45 mẫu động vật đáy (giun nhiều tơ, thân mềm và giáp xác) thu được ở vùng biển sâu cho Bảo tàng Hải dương học phục vụ cho chế tác, trưng bày và nghiên cứu khoa học; - Về đào tạo: Thông qua các hoạt động hợp tác của Hợp phần 2 nói riêng và Nhiệm vụ chung đã góp phần cũng cố và đẩy mạnh hơn mối quan hệ, hợp tác với đối tác Liên bang Nga, đặc biệt là các viện nghiên cứu chuyên ngành về Hóa sinh và Sinh học biển. Thông qua hoạt động trao đổi học tập từ ngày 22-31/8/2024 tại Liên bang Nga trong khuôn khổ của Hợp phần 2, chuyên gia Nga (TS. Marina Malyutina, Trung tâm Khoa học quốc gia về Sinh học biển A.V. Zhirmunsky) cùng phân tích và hiệu chỉnh tên khoa học của 5/8 taxa từ nguồn mẫu thu thập trong san hô chết trong chuyến khảo sát trên tài “Viện sĩ Oparin” lần thứ 7 và 8 do các chuyên gia Việt Nam xác định nhầm lẫn. Bên cạnh đó, chuyên gia Nga đã tập huấn nâng cao năng lực về phân loại học Bộ giáp xác chân đều Isopoda cho cán bộ trẻ của Viện Hải dương học (CN. Nguyễn Lê Thảo My). Điều này sẽ góp phần đào tạo nguồn nhân lực đảm nhận công tác phân loại học nhóm giáp xác cho Viện Hải dương học trong tương lai; - Về phát triển hợp tác: Thông qua chuyến trao đổi khoa học tại LB Nga, chủ nhiệm Hợp phần đã trao đổi và thống nhất với TS. Marina Malyutina (Trung tâm Khoa học quốc gia về Sinh học biển A.V. Zhirmunsky) cùng chia sẻ tư liệu phân tích mẫu nhóm giáp xác trong san hô chết phân tích được của hai bên, thống nhất định hướng và nội dung cùng xuất bản chung ít nhất 01 bài báo trên tạp chí quốc tế có uy tín liên quan đến nhóm giáp xác với tên bài báo dự kiến: Thành phần loài và phân bố giáp xác trong san hô chết ở Việt Nam - Species composition and spatial distribution of crustaceans in dead corals in coral reefs in Vietnam. Điều này sẽ góp phần nâng cao khả năng phối hợp xuất bản quốc tế trong thời gian tới. |
| Những đóng góp mới | Đây có thể được xem là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng các phương pháp thường quy và hiện đại (eDNA) trong việc nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi rạn san hô tại các bãi cạn, đồi ngầm nhằm góp phần nâng cao những hiểu biết cơ bản về vai trò và giá trị của các bãi cạn, đồi ngầm. Kết quả nghiên cứu này góp phần cung cấp nguồn tư liệu bước đầu làm cơ sở để các Bộ, Ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ TN & MT, Bộ NN & PTNT, Bộ KH & CN, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam) có thể tham khảo trong việc định hướng bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên tại các khu vực này nói riêng và ở Việt Nam, đồng thời thực hiện các nghiên cứu tiếp theo theo các định hướng nói trên trong thời gian tới. *** Sản phẩm cụ thể giao nộp: - Các bài báo đã công bố: + Nguyen Van Long, Thai Minh Quang, Mai Xuan Dat, Nguyen Le Thao My, Hoang Xuan Ben, 2024. Biodiversity of coral reefs and associated seagrass beds in Quy Nhon Bay, Binh Dinh Province. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 24(3): 265-279. https://doi.org/10.15625/1859-3097/19709 (VAST2); + Nguyen Van Long, Tran Van Binh, Thai Minh Quang, Nguyen Le Thao My, Marina Malyutina, 2024. Characteristics of composition, area and status of coral reefs at submerged banks and shoals on the continental shelf of southern Vietnam. Vietnam Journal of Marine Science and Technology (VAST2; có giấy xác nhận chấp nhận đăng của tạp chí); + Le Ngoc Trieu, Thai Thach Bich, Nguyen Van Ket, Nguyen Van Long, 2023. Genetic diversity, variation, and structure of two populations of bigfin reef squid (Sepioteuthis lessoniana d’Orbigny) in Con Dao and Phu Quoc Islands, Vietnam. Journal of Genetic Engineering and Biotechnology, 21: 116. https://doi.org/10.1186/s43141-023-00573-y (Scimago Q2); + Long Van Nguyen, Quang Minh Thai, Dat Xuan Mai, My Thao Nguyen-Le, Hong Kim Thi Phan, Ben Xuan Hoang, Ha Viet Dao, Marina Malyutina, 2024. Spatial recruitment patterns of Chaetodon butterflyfishes on coral reefs in the coastal waters of Vietnam. Environmental Biology of Fishes. https://doi.org/10.1007/s10641-024-01658-4 (Scimago Q2). - Các bằng sáng chế, giải pháp hữu ích: Không - Các sản phẩm (mô tả sản phẩm, nơi lưu giữ): + Bộ mẫu động vật đáy tiêu bản: 45 mẫu của 3 nhóm động vật đáy (giun nhiều tơ, thân mềm và giáp xác) vùng nước sâu đã được bàn giao cho Bảo tàng Hải dương học phục vụ cho việc chế tác, trưng bày và nghiên cứu; + Bộ tư liệu ảnh chụp tại các trạm khảo sát: 01 đĩa DVD lưu trữ tư liệu ảnh chụp minh họa về tình trạng rạn san hô tại 15 điểm rạn khảo sát tại các bãi cạn, đồi ngầm và đảo xa bờ trong khuôn khổ của Nhiệm vụ; Các sản phẩm được lưu trữ tại Viện Hải dương học. - Đào tạo: Hỗ trợ đào tạo 01 NCS do chủ nhiệm Nhiệu vụ hướng dẫn và cung cấp số liệu độ phủ thành phần nền đáy và mật độ san hô non bổ sung từ nguồn tư liệu tổng quan củanhững kết quả nghiên cứu trước đây và trong khuôn khổ của Hợp phần. |