- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về tác động của nước biển dâng do BĐKH khu vực quần đảo Trường Sa. - Tích hợp các loại dữ liệu bằng GIS để mô hình hóa và dự báo quá trình dao động mực nước biển trong khu vực nghiên cứu. - Xây dựng được bộ bản đồ phân bố và diện tích bị ngập lụt của 23 đảo nổi, nửa nổi nửa chìm theo các kịch bản khi nước biển dâng 0.5 m và 1.0 m. + Khi nước biển dâng cao 0.5 m, sẽ có 10/23 bãi đá bị ngập: bãi đá Cô Lin, bãi đá Nam, bãi đá Đông, bãi đá Lát, cụm bãi đá Tây, bãi đá Lớn, bãi đá Én Đất, bãi đá Len Đao, bãi đá Núi Le, bãi đá Núi Thị; Có 13/23 đảo và bãi đá nổi: đảo Trường Sa, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Phan Vinh, Sinh Tồn Đông, Trường Sa Đông, đảo An Bang, đá Ba Đầu, bãi đá Thuyền Chài, bãi đá Tiên Nữ và cụm bãi đá Tốc Tan. + Khi nước biển dâng cao 1.0 m sẽ có thêm 2 bãi đá bị ngập, đó là bãi đá Tiên Nữ và Thuyền Chài và 11/23 đảo và bãi đá vẫn còn nổi, đó là đảo Trường Sa, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Phan Vinh, Sinh Tồn Đông, Trường Sa Đông, đảo An Bang, đá Ba Đầu và cụm bãi đá Tốc Tan. + 5 trong số 10 đảo và bãi đá nổi bị ảnh hưởng mạnh nhất: bãi đá Ba Đầu, Song Tử Tây, Sinh Tồn, Nam Yết và An Bang. - Cường độ biến dạng bờ đảo xảy ra khá mạnh theo hai mùa khô và mùa mưa. Ba đảo được nghiên cứu thí điểm hầu hết có hình dạng elip với sự định hướng ĐB-TN (đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây) và á vĩ tuyến (đảo Nam Yết), cùng với đặc thù của gió mùa đông bắc (mùa khô) và gió mùa tây nam (mùa mưa) ở khu vực Biển Đông nên xu thế biến động đường bờ lớn nhất là ở phần đảo phía đông và đông bắc và phần phía tây và tây nam các đảo. - Qui trình định kỳ giám sát mực nước biển dâng vùng quần đảo Trường Sa - Áp dụng các phương pháp tích thủy văn đồng vị để nghiên cứu và đánh giá mức độ xâm nhập mặn nước dưới đất trên các đảo nổi của quần đảo Trường Sa: năm 2009 tỷ lệ pha trộn 5-20 %, năm 2010 tăng lên: 18-44 %. - Nước mưa ở các đảo nổi và nửa nổi nửa chìm là nguồn nước ngọt rất quý và cần phải tận dụng để cấp cho sinh hoạt và bổ cập cho nước dưới đất gióp phần hạn chế xâm nhập mặn. Xác định lượng nước mưa bổ cập cho nước dưới đất các đảo nổi dựa trên nồng độ Clo trong nước mưa và trong nước dưới đất, ở đảo Trường Sa lượng bổ cập: 183 mm/m2/năm, đảo Song Tử Tây là 179 mm/m2/năm, như vậy ở Trường Sa hàng năm có khoảng 20.079 m3 và đảo Song Tử Tây có 17.900 m3 nước mưa ngấm xuống đất và lượng nước mưa hàng năm có thể dùng bổ cập ở Trường Sa là 138.600 m3 và ở đảo Song Tử Tây là 117.300 m3; Lượng chảy tràn trên mặt sẽ gây ra úng lụt các công trình ngầm hoặc có thể gom lại để bổ cập cho nước dưới đất và cấp sinh hoạt đối với đảo Trường Sa là:118.521 m3 và ở đảo Song Tử Tây là 99,373 m3, nếu một người dùng 120 l/ngày thì lượng nước trên có thể dùng cho 2700 người ở đảo Trường Sa và 2270 người ở đảo Song Tử Tây. - Các giải pháp phòng tránh và giảm nhẹ các thiệt hại do nước biển dâng gây ra + Hạn chế xâm nhập mặn: ép nước xuống lỗ khoan, thiết kế hành lang khai thác nước phù hợp với các đặc tính địa chất thủy văn của các đảo san hô nhỏ, phương pháp khai thác, khử muối và bổ cập. + Hạn chế xói mòn và ngập lụt: Kiểm soát xói mòn và ngập lụt; theo dõi xói lở và quản lý xói lở; Các giải pháp mang tính công trình: các công trình mang tính bền vững: mỏ hàn biển, đê phá sóng, kè chắn, đập ngăn nước biển với mục đích làm giảm vận tốc sóng và chuyển hướng dòng chảy; Các nhóm công trình mang tính mềm dẻo: nuôi bãi cát nhân tạo. |