Thông tin Đề tài

Tên đề tài Đánh giá sự tích lũy độc tố tetrodotoxin trong một số đối tượng thủy sản nuôi bằng thức ăn cá nóc độc ở vùng biển Việt Nam nhằm cảnh báo nguy cơ ngộ độc đối với con người
Cơ quan chủ trì (Cơ quan thực hiện) Viện Hải dương học
Thuộc Danh mục đề tài Đề tài độc lập cấp Viện Hàn lâm KHCNVN
Họ và tên TS. Đào Việt Hà
Thời gian thực hiện 01/01/2010 - 01/01/2011
Tổng kinh phí 580 triệu đồng
Xếp loại Khá
Mục tiêu đề tài

Đánh giá được mức độ tích lũy độc tố tetrodotoxin trong một số đối tượng thủy sản nuôi bằng thức ăn cá nóc độc ở vùng biển Việt Nam nhằm cảnh báo nguy cơ ngộ độc đối với con người

Kết quả chính của đề tài

1. Đánh giá nguy cơ nhiễm độc tố TTX từ các mẫu vật thu ở các trại nuôi của dân địa phương:

Không phát hiện thấy độc tố TTX trong hầu hết các mẫu ốc Hương của hai trại nuôi Nha Trang và Vạn Ninh. Một vài mẫu có độc tính được phát hiện trong phân tích HPLC, nhưng các giá trị này rất nhỏ, hầu như không đáng kể. Cùng với giá trị cực đại khá nhỏ (0,4 MU/g ở trại nuôi Nha Trang và 1,3 MU/g ở trại nuôi Vạn Ninh), có thể nhận xét rằng mẫu ốc Hương thu từ hai trại nuôi của dân này hầu như không bị nhiễm độc tố TTX tại thời điểm thu mẫu.
Phần nào khác biệt so với đối tượng ốc Hương, tôm He chân trắng thu từ các trại nuôi Nha Trang và Vạn Ninh có biểu hiện nhiễm độc tố TTX cao hơn. Khoảng dao động độc tính của mẫu từ trại nuôi Nha Trang (0-26,3 MU/g) rộng hơn mẫu từ trại nuôi Vạn Ninh (1,1 – 12,6 MU/g). Đáng chú ý là bốn trong số 28 mẫu (14%) của trại nuôi Nha Trang có độc tính cao hơn giá trị an toàn thực phẩm đối với độc tố TTX (10 MU/g).

Không phát hiện thấy độc tố TTX trong hầu hết các mẫu ốc Hương của hai trại nuôi Nha Trang và Vạn Ninh. Một vài mẫu có độc tính được phát hiện trong phân tích HPLC, nhưng các giá trị này rất nhỏ, hầu như không đáng kể. Cùng với giá trị cực đại khá nhỏ (0,4 MU/g ở trại nuôi Nha Trang và 1,3 MU/g ở trại nuôi Vạn Ninh), có thể nhận xét rằng mẫu ốc Hương thu từ hai trại nuôi của dân này hầu như không bị nhiễm độc tố TTX tại thời điểm thu mẫu.

Phần nào khác biệt so với đối tượng ốc Hương, tôm He chân trắng thu từ các trại nuôi Nha Trang và Vạn Ninh có biểu hiện nhiễm độc tố TTX cao hơn. Khoảng dao động độc tính của mẫu từ trại nuôi Nha Trang (0-26,3 MU/g) rộng hơn mẫu từ trại nuôi Vạn Ninh (1,1 – 12,6 MU/g). Đáng chú ý là bốn trong số 28 mẫu (14%) của trại nuôi Nha Trang có độc tính cao hơn giá trị an toàn thực phẩm đối với độc tố TTX (10 MU/g).

2. Liều lượng độc tố TTX thích hợp trong thí nghiệm nuôi với ốc Hương và tôm He chân trắng:

Nguồn độc tính trong thức ăn sử dụng trong thí nghiệm của chúng tôi có giá trị thấp nhất vào tháng đầu tiên (0,46 MU/g đối với ốc Hương và 0,63 MU/g trong tôm He chân trắng) đều đạt giá trị cao hơn ngưỡng tối thiểu. Có thể nói, độc tính trong thức ăn cung cấp đầu vào chế biến từ gan/cơ cá nóc Chấm cam đảm bảo gây sự tích lũy trong sinh vật thử nghiệm.

3. Sự tích lũy độc tố TTX của ốc Hương và tôm He chân trắng trong thí nghiệm nuôi cho ăn cá nóc độc:

Có mối tương quan thuận chặt chẽ giữa độc tính của ốc Hương và tôm He chân trắng trong thí nghiệm này với thời gian nuôi. Như vậy, với độc tính cung cấp đầu vào hàng tháng nhất định, thời gian nuôi càng dài thì chúng tích lũy độc tố càng cao. Ở cả 02 loài sinh vật thử nghiệm, có sự biến động rất rộng của độc tính trong các mẫu trong cùng một lô thí nghiệm. Một điều đáng lưu ý là tỉ lệ cá thể biểu hiện độc tính cao hơn giá trị an toàn thực phẩm đối với độc tố TTX là rất lớn. Sau một tháng thí nghiệm, 25% số lượng ốc Hương và 23,3% số lượng tôm He chân trắng có độc tính vượt ngưỡng 10 MU/g. Đặc biệt, sau 02 tháng thí nghiệm, có những cá thể biểu hiện độc tính rất cao (> 100 MU/g). Sau 04 tháng nuôi, 57,1% số mẫu ốc Hương và 33,3% số mẫu tôm He chân trắng chứa độc tính TTX vượt ngưỡng an toàn thực phẩm (10 MU/g).

4. Khuyến cáo đối với con người khi tiêu thụ sản phẩm nuôi bằng cá nóc độc trên cơ sở đối chiếu với tiêu chuẩn an toàn thực phẩm:

Qua kết quả nghiên cứu của đề tài này, hình thức sử dụng cá nóc độc làm thức ăn trong nuôi thủy sản tại một số hộ nuôi cá thể tại các vùng ven biển Việt Nam là không hợp lý, không bảo đảm an toàn thực phẩm. Các cơ quan chức năng cần có những hình thức cảnh báo, khuyến cáo đối với tình trạng sử dụng cá nóc độc làm thức ăn nuôi thủy sản một cách thiếu cơ sở khoa học.

Những đóng góp mới

Kết quả của đề tài cảnh báo việc sử dụng bừa bãi cá nóc độc làm thức ăn nuôi thủy sản hiện nay là tuyệt đối không an toàn, có nguy cơ gây ngộ độc tử vong cho người tiêu dùng.

Sản phẩm đề tài

Các bài báo đã công bố (liệt kê):

  1. Độc tính tetrodotoxin tích lũy trong tôm he Chân trắng Litopenaeus vanamei (Boone, 1931) trong thí nghiệm nuôi cho ăn thức ăn chế biến từ cá nóc độc. Tạp chí KH và CN Biển. 2013 (đã được chấp nhận đăng)
  2. Độc tính tetrodotoxin tích lũy trong ốc Hương Babylonia areolata trong thí nghiệm nuôi cho ăn thức ăn chế biến từ cá nóc độc. Tuyển tập hội nghị khoa học Biển Đông 2012 (đã được chấp nhận đăng)

Các sản phẩm khác (nếu có): báo cáo tổng kết đáp ứng nội dung và mục tiêu đặt ra.

Một số hình ảnh của đề tài



Hệ thống bể composite sử dụng trong thí nghiệm nuôi tôm He chân trắng

 

Địa chỉ ứng dụng

Bộ Y Tế, Bộ NN và PTNT, các trường đại học, cộng đồng ngư dân, cơ quan quản lý ở các tỉnh ven biển.