Điều tra đa dạng thực vật - Bước khởi đầu trong tiến trình phục hồi hệ sinh thái từ những loài cây bản địa
Hành trình bắt đầu từ những cánh rừng sau thiên tai
Đối với các nhà thực vật học, phục hồi rừng là hành trình của những chuyến khảo sát tìm lại các loài cây quen thuộc của khu vực. Muốn tái tạo hệ sinh thái, trước hết phải hiểu hệ thực vật bản địa, từ thành phần loài, đặc điểm sinh thái đến khả năng thích nghi của từng loài trong tự nhiên.
Sau nhiều trận mưa lũ lịch sử năm 2020, nhiều khu vực rừng ở miền Trung chịu những tổn thương nặng nề, trong đó có Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền (trước đây là Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, thành phố Huế). Thuộc vùng sinh thái Trung Trường Sơn, nơi được các nhà bảo tồn quốc tế xác định là một trong 200 vùng sinh thái có tầm quan trọng đặc biệt của thế giới, Phong Điền không chỉ lưu giữ nhiều loài động, thực vật quý hiếm và các nguồn gen bản địa có giá trị mà còn giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn cho các lưu vực sông Mỹ Chánh, Ô Lâu và sông Bồ. Đây là một trong những khu vực còn bảo tồn được tính nguyên vẹn của hệ thực vật tự nhiên, là nguồn vật liệu sinh học quan trọng phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái.

Một số sinh cảnh trong các chuyến khảo sát tại Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền
Trong khi đó, Trung tâm Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Việt Nam và Cứu hộ động, thực vật (CCRR) thuộc Trung tâm Địa học và Môi trường, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đang triển khai các hoạt động lưu giữ nguồn gen, cứu hộ động, thực vật và xây dựng các mô hình phục hồi sinh cảnh.
Tuy nhiên, để tái tạo một hệ sinh thái gần với tự nhiên, việc lựa chọn đúng các loài cây bản địa có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái là yêu cầu tiên quyết. Mặc dù các cuộc điều tra trước đây tại Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền đã ghi nhận 755 loài thực vật thuộc 145 họ, trong đó có nhiều loài nguy cấp, quý hiếm nhưng các dữ liệu này chủ yếu phản ánh hiện trạng đa dạng thực vật và chưa hướng tới việc lựa chọn nguồn giống phục vụ phục hồi hệ sinh thái.
Từ thực tế đó, PGS.TS. Vũ Tiến Chính và nhóm nghiên cứu Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã triển khai đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về Sinh học và Đa dạng sinh học: “Nghiên cứu đa dạng thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, là cơ sở tái tạo khu hệ sinh thái tại Trung tâm Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Việt Nam và Cứu hộ động, thực vật” (mã số: CT0000.02/23-25). Nghiên cứu tập trung điều tra đa dạng thực vật tại Phong Điền, thu thập nguồn giống cây bản địa và tạo cơ sở khoa học cho công tác nhân giống, gây trồng, phục hồi hệ thực vật bản địa tại CCRR, góp phần bảo tồn nguồn gen, nâng cao chất lượng sinh cảnh và tạo nền tảng cho các chương trình trồng rừng theo hướng gần với tự nhiên.

PGS.TS. Vũ Tiến Chính tại phòng làm việc
Từ dữ liệu khảo sat đa dạng sinh học
Trong giai đoạn 2023 - 2025, nhóm đã thực hiện nhiều đợt khảo sát tại Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền. Công việc của các nhà thực vật học không chỉ là thu thập mẫu vật hay xác định tên loài mà còn phải ghi nhận đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng và hiện trạng bảo tồn của từng loài để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái.
Sau nhiều chuyến thực địa, nhóm đã phác họa bức tranh tương đối toàn diện về hệ thực vật của Phong Điền với 365 loài và dưới loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 294 chi, 114 họ và 5 ngành thực vật. So với các kết quả điều tra trước đây, nghiên cứu đã bổ sung 57 loài và giám định, chuẩn hóa lại 308 loài, góp phần cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đa dạng thực vật của khu vực.
Một trong những kết quả nổi bật của đề tài là phát hiện và công bố hai loài mới cho khoa học gồm Tỏi Phong Điền (Aspidistra phongdiensis) và Diệp hạ châu Việt Nam (Nymphanthus vietnamensis), đồng thời ghi nhận bổ sung loài Impatiens hirsutisepala cho hệ thực vật Việt Nam.
![]() | ![]() | ![]() |
| Aspidistra phongdiensis (Loài mới cho khoa học) | Nymphanthus vietnamensis (Loài mới cho khoa học) | Impatiens hirsutisepala Tardieu (Loài bổ sung Hệ thực vật Việt Nam) |
Nhóm còn đánh giá giá trị sử dụng của hệ thực vật. Kết quả ghi nhận 459 lượt giá trị sử dụng thuộc 6 nhóm công dụng; trong đó 228 loài có giá trị làm dược liệu, thực phẩm, tinh dầu, cây cảnh và lâm nghiệp. Nghiên cứu cũng xác định 16 loài thực vật quý hiếm thuộc các danh mục ưu tiên bảo tồn của Việt Nam và quốc tế, làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững.
Theo PGS.TS. Vũ Tiến Chính: Để định danh chính xác một loài thực vật, nhóm nghiên cứu phải có mặt đúng thời điểm cây ra hoa hoặc kết quả. Vì vậy, nhiều chuyến khảo sát được thực hiện vào các tháng 7, 8 và 9, thời điểm nắng nóng nhất ở miền Trung nhưng cũng là mùa ra hoa của nhiều loài thực vật. Ông chia sẻ: “Nếu bỏ lỡ mùa hoa của một loài, chúng tôi có thể phải chờ thêm cả một năm mới có cơ hội xác định chính xác. Vì thế, mỗi chuyến khảo sát đều là một cuộc chạy đua với mùa hoa”.
Đến giải pháp phục hồi hệ sinh thái
Từ những dữ liệu thu thập và đánh giá về đặc điểm sinh thái và khả năng thích nghi của các loài cây bản địa, nhóm nghiên cứu đã tiến hành quá trình lựa chọn các loài phù hợp cho công tác xây dựng mô hình trồng thử nghiệm tại CCRR. Kết quả cho thấy, có 37 loài có tiềm năng, sau quá trình sàng lọc, nhóm lựa chọn được 15 loài để trồng thử nghiệm. Mô hình được triển khai trên diện tích khoảng 700 m², quy tụ nhiều loài cây gỗ bản địa có giá trị sinh thái và kinh tế như ngô đồng, lát hoa, dổi hạt, trẩu cùng các loài gỗ quý thuộc họ Đậu. Đây không chỉ là mô hình trồng cây đơn thuần mà là bước kiểm chứng khả năng sinh trưởng, thích nghi của các loài cây bản địa trong điều kiện tái tạo sinh cảnh, tạo cơ sở khoa học để lựa chọn nguồn giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật phục vụ phục hồi rừng bằng cây bản địa.
Nhớ lại giai đoạn xây dựng mô hình, PGS.TS. Vũ Tiến Chính cho biết: “Khó khăn lớn nhất không phải là tìm được những loài cây bản địa quý mà là giúp chúng có thể nhân giống, thích ứng được với vi khí hậu tại khu vực phục hồi sau khi được đưa về trồng. Đợt trồng đầu tiên, phần lớn cây giống đều không sống được. Khu vực xây dựng mô hình trước đó đã được san gạt để thi công, tầng đất mặt bị xáo trộn, hệ vi sinh vật trong đất suy giảm nên cây rất khó thích ứng. Chúng tôi phải điều chỉnh lại cách làm, cải tạo đất, bổ sung vi sinh vật bản địa từ xác bã thực vật rừng, lựa chọn những loài có khả năng thích nghi tốt hơn rồi mới tiếp tục trồng thử nghiệm”.
Theo ông: Chính những thất bại ban đầu đã giúp nhóm hiểu rõ hơn điều kiện sinh thái của khu vực, từ đó hoàn thiện quy trình kỹ thuật và tích lũy những kinh nghiệm quan trọng cho các nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái sau này.

Một số hoạt động của nhóm nghiên cứu tại CCRR
Nhóm còn xây dựng Danh lục thực vật Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền, báo cáo đánh giá hiện trạng hệ sinh thái tại CCRR, báo cáo đánh giá sinh trưởng của các loài thực vật bản địa được chọn trồng phục hồi, xây dựng bộ mẫu tiêu bản thực vật và hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ viễn thám kết hợp phần mềm eCognition - phần mềm chuyên dùng để phân tích và phân loại ảnh vệ tinh, để số hóa trạng thái thảm thực vật và theo dõi diễn biến rừng đã tạo thêm công cụ hỗ trợ giám sát, đánh giá hiệu quả tái tạo hệ sinh thái trong dài hạn.
Từ các dữ liệu điều tra, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững các loài thực vật quý hiếm, cung cấp căn cứ để lựa chọn nguồn giống bản địa cho các chương trình phục hồi rừng, bảo tồn nguồn gen và tái tạo sinh cảnh tại các khu bảo tồn thiên nhiên.
Đề tài còn ghi dấu thông qua hoạt động công bố khoa học và đào tạo. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm đã công bố 2 bài báo quốc tế thuộc danh mục SCIE, một bài báo trên Tạp chí Sinh học (VAST2) và 2 bài báo trên các tạp chí trong nước, đồng thời hướng dẫn hỗ trợ một nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công một học viên cao học.
Những kết quả của đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá cao cả về giá trị khoa học và khả năng ứng dụng thực tiễn. Theo GS.TS. Trương Xuân Lam, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu: Mô hình trồng cây bản địa là kết quả nổi bật của đề tài, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho công tác bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái. Cùng quan điểm đó, GS.TS. Trần Thế Bách nhận định: Nhóm tác giả đã cập nhật những dữ liệu tin cậy về đa dạng thực vật cũng như công tác chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành mô hình ứng dụng phục vụ tái tạo hệ sinh thái. Đề tài có chất lượng khoa học cao, vượt các chỉ tiêu về sản phẩm nghiên cứu, đặc biệt là các công bố quốc tế, đồng thời có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Từ những kết quả đã đạt được, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng điều tra các nhóm thực vật đặc hữu và quý hiếm tại Khu Dự trữ thiên nhiên Phong Điền, đồng thời hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật phục vụ tái tạo các hệ sinh thái bị tác động. Đây sẽ là cơ sở để mở rộng ứng dụng mô hình tại các khu bảo tồn thiên nhiên có điều kiện sinh thái tương đồng.
Chu Ngân



