VIỆN KỸ THUẬT NHIỆT ĐỚI

14/08/2012
1. Tình hình đào tạo NCS của Viện Kỹ thuật nhiệt đới: Từ năm 1982 Viện KTNĐ là 1 cơ sở đào tạo NCS thuộc Bộ GDDT với 3 chuyên ngành: Hóa Lý thuyết và hóa lý, Hóa Hữu cơ Vật liệu cao phân tử và tổ hợp. Nhưng công tác đào tạo NCS của Viện có nhiều kết quả và liên tục từ năm 2005. Năm 2005 Viện bắt đầu tuyển NCS khóa 1 với 2 NCS, trong đó 1 NCS đã bảo vệ thành công luận án và nhận bằng năm 2010 và 1 NCS bảo vệ luận án và nhận bằng năm 2011. Năm 2006, Viện tuyển được 4 NCS khóa 2, trong đó 1 NCS đã bảo vệ năm 2010 và được cấp bằng năm 2011. Số NCS còn lại đã bảo vệ cấp cơ sở và chuẩn bị bải vệ cấp Viện. Năm 2007 Viện tuyển được 1 NCS khóa 3, đã bảo vệ thành công luận án năm 2011 và được công nhận học vị và cấp bằng TS năm 2012.

Những năm tiếp theo Viện liên tục tuyển NCS, nhìn chung số NCS của Viện KTNĐ ngày càng tăng từ năm đầu tiên chỉ có 2 NCS, đến năm 2011 số NCS xét tuyển là 11. Tính đến thời điểm này Viện có 4 NCS đã bảo vệ và được cấp bằng tiến sĩ, 24 NCS đang làm việc tại Viện KTNĐ, trong đó có 2 NCS đã bảo vệ luận án cấp cơ sở.

Từ năm 2005 đến 2009 công tác đào tạo NCS theo các quy định của Bộ GDĐT. Từ khi có thông tư của 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Bộ GDDT, Viện KTNĐ đã có các quy định về đào tạo NCS và hình thức tuyển sinh cũng thay đổi từ thi tuyển sang xét tuyển, việc bảo vệ luận án các cấp của NCS do Viện hoàn toàn đảm nhận.

Sau khi thực hiện công tác đào tạo sau đại học theo quy chế mới, trong 2 năm 2010 và 2011 Viện đã xét tuyển (19 NCS) và cấp 3 bằng tiến sĩ.

Để đáp ứng các yêu cầu mới về đào tạo NCS của Viện theo 3 chuyên ngành, Viện đã được Viện KHCNVN hỗ trợ kinh phí để soạn các giáo trình đào tạo sau đại học. Hiện nay Viện đã có 3 giáo trình đưa vào giảng dạy và sẽ tiếp tục bổ sung các giáo trình trong thời gian tới.

2. Một số thuận lợi, khó khăn:

2.1. Thuận lợi

Viện Kỹ thuật nhiệt đới là một viện nghiên cứu liên ngành đi đầu về nghiên cứu – triển khai bảo vệ vật liệu, thiết bị, công trình trong điều kiện khí hậu nhiệt đới với 76 cán bộ định biên, trong đó có 6 phó giáo sư - tiến sỹ; 18 tiến sỹ, 21 thạc sỹ, 26 kỹ sư và cử nhân với các phòng thí nghiệm trong các lĩnh vực hóa học, vật lý, môi trường, các xưởng sản xuất - thử nghiệm; các cơ sở thử nghiệm tự nhiên ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Quảng Bình, Nha Trang. Viện được giao chủ trì thực hiện các đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài KHCN các cấp. Vì vậy các NCS sẽ tham thực hiện các nội dung của các đề tài. Trong quá trình thực hiện luận án NCS được sử dụng các thiết bị nghiên cứu của Viện. Đây là những thuận lợi cơ bản cho công tác đào tạo NCS của Viện.

2.2. Khó khăn

Kinh phí cấp cho NCS từ ngân sách Nhà nước thấp, kinh phí này chủ yếu sử dụng để bồi dưỡng các thầy hướng dẫn và chi trả một phần cho các Hội đồng bảo vệ của NCS . Ngoài ra Viện cũng thu học phí của NCS để chi trả cho các Hội đồng, các chuyên đề trong quá trình đào tạo, công tác đào tạo. Vì vậy kinh phí để NCS thực hiện luận án chủ yếu dựa vào kinh phí của các đề tài của các thầy hướng dẫn và NCS. Đây là khó khăn trong công tác đào tạo NCS.

Nguồn tin:  Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa Học và Công nghệ Việt Nam



Tags:
Tin liên quan