VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC

14/08/2012
Viện Công nghệ sinh học được giao nhiệm vụ Đào tạo Sau đại học bậc Tiến sĩ theo 06 mã số chuyên ngành (Quyết định số 5702/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH, ngày 01/10/2004 và Quyết định số 6061/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH, ngày 20/10/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) gồm:

1) Chuyên ngành: Sinh lý học Người và Động vật      Mã số: 62 42 30 01
2) Chuyên ngành: Sinh lý học Thực vật                     Mã số: 62 42 30 05
3) Chuyên ngành: Lý sinh học                                  Mã số: 62 42 30 10
4) Chuyên ngành: Hóa sinh học                                Mã số: 62 42 30 15
5) Chuyên ngành: Vi sinh vật học                              Mã số: 62 42 40 01
6) Chuyên ngành: Di truyền học                                Mã số: 62 42 70 01

Kể từ khi được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học (bậc Tiến sĩ) đến nay Viện Công nghệ sinh học đã đào tạo được 88 tiến sĩ là các cán bộ, giảng viên đến từ các Viện, Trường như: Viện Công nghệ sinh học, Viện Di truyền Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Khoa học Huế, Viện Sinh học Nhiệt đới… và hiện trong năm 2012 có 7 hồ sơ đang làm thủ tục chuẩn bị bảo vệ cấp Nhà nước. Số lượng nghiên cứu sinh quản lý trong năm là trên 40 NCS.

1. Kết quả đào tạo sau đại học (bậc tiến sĩ)

1.1. Công tác tuyển sinh

Thực hiện qui chế tuyển sinh: (1) Thực hiện theo các thông báo và hướng dẫn tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo; (2) Thông tư 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành qui chế đào tạo trình độ tiến sĩ; (3) Quyết định số 555/QĐ-CNSH ngày 22/12/2009 của Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học về việc Ban hành Qui định đào tạo trình độ tiến sĩ theo Qui chế 10/2009

Chỉ tiêu được giao và kết quả thực hiện: Hàng năm Viện được giao 15 chỉ tiêu đào tạo nghiên cứu sinh, số chỉ tiêu này đã gấp đôi so với chỉ tiêu của vài ba năm trước và số hồ sơ đạt yêu cầu luôn cao hơn chỉ tiêu được giao.

Chất lượng tuyển chọn đầu vào: Công tác tuyển sinh được thực hiện theo các qui định tuyển sinh và hướng dẫn tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các thí sinh dự thi đều là các cán bộ có trình độ Thạc sĩ; Điểm trung bình bậc Thạc sĩ từ 8,0 trở lên; có kinh nghiệm làm việc ít nhất là 3 năm trong phòng thí nghiệm và thường có ít nhất 3 công trình nghiên cứu công bố trên tạp chí khoa học.

1.2. Hoạt động đào tạo Tiến sĩ

Quá trình xác định tên đề tài luận án và phân công người hướng dẫn nghiên cứu sinh của cơ sở trong thời gian qua

Tên đề tài luận án được dựa trên các nội dung nghiên cứu chính của từng phòng thí nghiệm trong Viện, các đề tài cấp Nhà nước, Nghị định thư và cấp Bộ. Giáo viên hướng dẫn là các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ có nhiều kinh nghiệm về chuyên môn thuộc từng chuyên ngành mà các nghiên cứu sinh đăng ký, đã và đang chủ trì các đề tài, giúp nghiên cứu sinh định hướng được các nội dung nghiên cứu cũng như hỗ trợ kinh phí để thực hiện.

Công tác quản lý nghiên cứu sinh

Mỗi nghiên cứu sinh đều có hồ sơ lưu trữ đầy đủ từ khi tuyển sinh đến lúc tốt nghiệp. Sáu tháng một lần nghiên cứu sinh sẽ báo cáo kết quả học tập tại Viện bằng văn bản và tổ chức 1 buổi sinh hoạt khoa học tại Phòng thí nghiệm nơi nghiên cứu sinh thực hiện nội dung luận án. Vào đầu năm học mới, Viện luôn có kết hoạch học tập chung cho các khóa và thường xuyên có những thông báo và thay đổi liên quan đến việc học tập của nghiên cứu sinh bằng văn bản, thư điện tử và trên trang web của Viện

Đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong tổ chức thực hiện các chuyên đề, đánh giá luận án tiến sĩ ở Phiên trù bị và phiên chính thức, hợp tác quốc tế trong đào tạo sau đại học

Thực hiện quy chế đào tạo theo Thông tư 10/2009, nghiên cứu sinh sẽ phải hoàn thành môn tiếng anh chuyên ngành nâng cao và hai học phần là:

Học phần bắt buộc gồm 3 chuyên đề, mỗi chuyên đề 2 tín chỉ: (i) Phân tích và đánh giá một công trình khoa học nước ngoài liên quan đến chuyên ngành; (ii) Trình bày kết quả nghiên cứu dự kiến đăng trên tạp chí khoa học; (iii) Ứng dụng tin sinh trong nghiên cứu công nghệ sinh học.

Học phần tự chọn: gồm 3 chuyên đề tiến sĩ: Các chuyên đề tiến sĩ đòi hỏi nghiên cứu sinh phải tự cập nhật những kiến thức mới liên quan trực tiếp đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, giúp nghiên cứu sinh giải quyết một số nội dung của đề tài luận án.

Học phần bắt buộc là chương trình đào tạo mới đối với nghiên cứu sinh so với chương trình đào tạo tiến sĩ trước đây.

Đánh giá Luận án tiến sĩ Phiên trù bị: Đây là buổi đánh giá góp ý rất quan trọng đối với một luận án tiến sĩ. Góp ý về bố cục của luận án, cách viết tổng quan, các phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và xử lý kết quả, cách biện luận kết quả, các kết luận và đề nghị, cách thống nhất viết các thuật ngữ khoa học… để hoàn chỉnh thành quyển luận án theo đúng qui định và có hàm lượng khoa học cao.

Thống kê số lượng NCS đã bảo vệ thành công luận án từ năm 2000 - 2012

 Năm bảo vệ  Số lượng NCS bảo vệ luận án cấp Nhà nước (54) 
2000 2
2001  5
2002  -
2003 3
2004 4
2005  4
2006  2
2007  7
2008  4
2009  4
2010  11
2011  1
2012 Dự kiến sẽ có 7 NCS bảo vệ

Hợp tác quốc tế trong đào tạo: Viện Công nghệ sinh học đã có những hợp tác quốc tế nhất định trong công tác đào tạo nghiên cứu sinh như: trong quá trình thực hiện đề tài luận án nghiên cứu sinh đã được đi nước ngoài để thực hiện một số nội dung nghiên cứu, học các kỹ thuật thí nghiệm, mời thầy đồng hướng dẫn. Nghiên cứu sinh cũng được tham dự các hội thảo quốc tế ở trong nước và ngoài nước tuy nhiên mức độ hợp tác chưa được mạnh.

Đề xuất gắn kết đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học

Do đặc thù là một Viện nghiên cứu đầu ngành vì vậy, nghiên cứu sinh khi thực hiện đề tài luận án tại Viện đã được học và hướng dẫn làm thí nghiệm, sau một thời gian ngắn đã biết cách bố trí thí nghiệm cho nội dung nghiên cứu của mình trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên và tự làm việc độc lập.

Các đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh nằm trong các nội dung nghiên cứu của đề tài mà giáo viên hướng dẫn đang chủ trì vì vậy đã hỗ trợ tích cực để nghiên cứu sinh làm thí nghiệm và có được những số liệu đáng tin cậy góp phần vào việc công bố quốc tế và quốc gia.

1.3. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Với nhiệm vụ đào tạo sau đại học bậc Tiến sĩ, việc các nghiên cứu sinh phải học các môn lý thuyết là không có mà chủ yếu là tự nghiên cứu và làm thí nghiệm. Là một Viện nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ sinh học nên việc hướng dẫn các nghiên cứu sinh làm thí nghiệm để có được kết quả là hết sức thuận lợi.

Các cán bộ hướng dẫn của Viện là các Giáo sư, Phó Giáo sư - những chuyên gia về Công nghệ sinh học, sinh học phân tử, các Tiến sĩ đều được đào tạo từ nước ngoài đang chủ trì và tham gia các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và cấp Bộ.

1.4. Phương hướng, giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo

Đào tạo Sau đại học (bậc Tiến sĩ) đòi hỏi mỗi nghiên cứu sinh phải biết cách tự làm việc độc lập. Mỗi đề tài luận án của nghiên cứu sinh là một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, có khả năng ứng dụng trong sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, các đề tài luận án của nghiên cứu sinh hiện nay đều được xây dựng dựa trên các đề tài nghiên cứu của tập thể hướng dẫn, phụ thuộc vào kinh phí đề tài và thời gian thực hiện đề tài của giáo viên. Các đề tài luận án luôn bị động và có những đề cương nghiên cứu phải thay đổi sau một năm thực hiện do hết kinh phí.

Trong quá trình đào tạo, việc đánh giá chất lượng luận án Phiên trù bị và Phiên chính thức đều khó khăn trong việc lấy được bản nhận xét của các thành viên Hội đồng cũng như bản nhận xét tóm tắt luận án của các chuyên gia mặc dù cơ sở đào tạo đã có công văn, giấy mời, hạn thời gian và việc sắp xếp lịch bảo vệ cũng tương tự như vậy.

Việc đánh giá chất lượng qua việc xin bản nhận xét về tóm tắt luận án của các chuyên gia là một việc làm hết sức hình thức. Trong bản tóm tắt, nghiên cứu sinh không thể hiện hết được sự logic của vấn đề cần giải quyết, do đó những nhận xét là chung chung, không đúng thực tế của luận văn.

Hơn nữa các chuyên gia nghiên cứu sâu về một lĩnh vực nào đó không liên quan tới luận văn, nên không có đủ thời gian để biết tổng quan trên thế giới, do đó nhiều vấn đề nghiên cứu sinh thực hiện lặp đi lặp lại, mà nhiều chuyên gia vẫn đánh giá là mới là xuất sắc. Vì vậy, nên thông qua các bài báo quốc tế có SCI, các bài báo quốc gia ISSN, bản quyền hay chuyển giao công nghệ để đánh giá chất lượng của công trình, và bỏ việc xin ý kiến của các chuyên gia. Vừa mất thời gian của các chuyên gia, vừa hình thức chủ nghĩa. Có thể có nhiều nhận xét hay và sắc sảo, nhưng về phía chủ quan, người ta cũng có thể quên không tập hợp lại.

Nguồn tin: Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam



Tags:
Tin liên quan