VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

14/08/2012
Viện Công nghệ môi trường trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được thành lập theo quyết định số 148/2002/QĐ ngày 30/10/2002 của Thủ tướng Chính Phủ, trên cơ sở hợp nhất một số đơn vị nghiên cứu, triển khai trong lĩnh vực môi trường thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Kế thừa những thành quả và kinh nghiệm của các đơn vị tiền thân, Viện Công nghệ môi trường đã bắt kịp nhanh với những yêu cầu của xã hội, không ngừng tự hoàn thiện khả năng nghiên cứu, cũng như ứng dụng những thành quả nghiên cứu vào trong thực tế.

Cùng với hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng công nghệ và hợp tác quốc tế, đào tạo cán bộ nói chung và cán bộ có trình độ cao là một chức năng quan trọng của Viện, cũng là một trong những định hướng phát triển của Viện từ những ngày đầu thành lập.

Ngày 5 tháng 11 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1954/QĐ-TTg về việc giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sỹ cho Viện Công nghệ môi trường. Đây là một bước tiến quan trọng trong hoạt động đào tạo của Viện.

1. Đánh giá các kết quả hoạt động đào tạo SĐH

1.1. Đào tạo trình độ Tiến sĩ tại Viện Công nghệ môi trường:

Viện Công nghệ môi trường đã và đang thực hiện công tác đào tạo một cách nghiêm túc và hiệu quả. Hiện nay, Viện CNMT mới chỉ đào tạo 01 chuyên ngành Công nghệ môi trường nước và nước thải, với số lượng NCS đang học tập và làm việc tại Viện là 06 người. Đợt tuyển sinh NCS năm 2011 vừa qua, Viện CNMT tuyển mới 03 NCS đưa tổng số lượng NCS tại Viện lên là 09 người. Với mục tiêu đào tạo Tiến sĩ chất lượng, Viện CNMT đã có chủ trương tuyển chọn NCS đầu vào trình độ cao đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Hội đồng khoa học Viện đề ra. Các NCS học tập và nghiên cứu tại Viện đã được tạo điều kiện đầy đủ về mọi mặt, về khía cạnh người hướng dẫn và thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học. Điều này đã được phản ánh qua những lần báo cáo tình hình kết quả học tập nghiên cứu của các NCS trước Hội đồng khoa học Viện.

Nói chung, công tác đào tạo tại Viện CNMT luôn luôn được chú trọng phát triển. Đội ngũ giảng viên của Viện CNMT rất nhiệt huyết trong việc hướng dẫn NCS. Tuy nhiên, do kinh phí dành cho đào tạo tại Viện còn rất hạn hẹp, nên đã gặp không ít khó khăn về phân bổ kinh phí cho giảng viên và NCS. Mặc dù vậy, Viện CNMT cũng đã cố gắng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đảm bảo chất lượng đào tạo.

1.2. Phối hợp đào tạo tại nước ngoài:

Liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, nhiều cán bộ trẻ của Viện đã được gửi đi đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ tại nước ngoài, thông qua các dự án hợp tác quốc tế giữa Viện Công nghệ môi trường với các Viện nghiên cứu và các trường Đại học ở Canada, Pháp, Bỉ, Hàn Quốc, Nhật Bản, v.v… Nhiều đợt đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài cũng đã được tổ chức, giúp cho việc tăng cường kiến thức và kỹ năng của cán bộ Viện trong hầu hết các lĩnh vực khoa học công nghệ về môi trường. Bên cạnh đó, số đoàn công tác trao đổi khoa học với các tổ chức nước ngoài cũng rất lớn và luôn được duy trì, tạo cơ hội để cán bộ của Viện tiếp cận đến các hướng nghiên cứu, phương pháp, công nghệ mới và hình thành các dự án hợp tác nghiên cứu mới.

Bảng 1. Số lượng cán bộ được đào tạo dài hạn ở nước ngoài

Năm cử đi20042005200620072008200920102011
Thạc sĩ 3 7 2 3 1 1 1 1
Tiến sĩ 3 3 2 1 2 1 1 1

2. Những vấn đề còn tồn tại

2.1. Kinh nghiệm đào tạo:

Từ năm 2009 đến nay, đã qua 3 năm Viện Công nghệ môi trường thực hiện công tác tuyển sinh NCS và đào tạo trình độ Tiến sĩ, nhưng gần như mới chỉ là những bước khởi đầu. Điểm thuận lợi của Viện CNMT là có đội ngũ giảng viên và người hướng dẫn có trình độ đào tạo chuyên sâu, nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng triển khai, tham gia thực hiện nhiều dự án về môi trường và các lĩnh vực liên quan. Điều này rất quan trọng trong việc truyền đạt kinh nghiệm cho NCS thực hiện thành công luận án Tiến sĩ. Bên cạnh đó, còn có sự tham gia của các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ hiện đang giảng dạy và công tác tại các trường Đại học và Viện nghiên cứu của nước ngoài theo các chương trình, dự án hợp tác quốc tế.

Về mặt cơ sở vật chất, Viện Công nghệ môi trường có phòng học, phòng hội thảo, thư viện, máy tính, các phòng thí nghiệm với các trang thiết bị hiện đại đạt chuẩn quốc tế, là các điều kiện tốt để các NCS hoàn thành chương trình đào tạo Tiến sĩ.

Có một vấn đề, mặc dù Viện đã trang bị hệ thống internet với mục đích đáp ứng nhu cầu quản lý tra cứu và cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới cho NCS, nhưng trên thực tế, hoạt động này chưa hiệu quả, do chưa kết nối được với các cổng thông tin và trang điện tử quốc tế cần thiết cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng triển khai.

2.2. Tuyển sinh và quản lý đào tạo:

Công tác tuyển sinh của Viện CNMT được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Viện được giao là 07, nhưng số thí sinh trúng tuyển của các năm mới đạt khoảng 50% do yêu cầu tuyển chọn đầu vào đối với NCS tương đối cao. Chất lượng đào tạo luôn được đặt lên hàng đầu đảm bảo Tiến sĩ tốt nghiệp tại Viện Công nghệ môi trường đạt trình độ chuyên môn cao, đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội và đất nước.

Về công tác quản lý đào tạo, Viện cũng đã có quy định cụ thể về đào tạo trình độ Tiến sĩ căn cứ theo Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, cách thức tổ chức công tác quản lý đào tạo chưa chuyên nghiệp, không có cán bộ chuyên trách mà phải kiêm nhiệm. Điều này phần nào cũng làm ảnh hưởng tới công tác quản lý đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn và các NCS đang học tập và nghiên cứu tại cơ sở, làm hạn chế lượng thí sinh đăng ký tuyển NCS của Viện.

2.3. Chương trình đào tạo:

Viện Công nghệ môi trường đã xây dựng chương trình đào tạo trình độ Tiến sĩ cụ thể, dựa trên các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Để hoàn thành chương trình đào tạo trình độ Tiến sĩ, NCS phải đáp ứng đủ các yêu cầu do Bộ GD&ĐT và Viện CNMT đề ra, bao gồm: tiểu luận tổng quan; 03 chuyên đề khoa học; 03 học phần tiến sĩ; 01 công trình khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế và yêu cầu về trình độ ngoại ngữ.

Về cơ bản thì chương trình đào tạo như trên là phù hợp, nhưng khoảng thời gian 03 năm đối với NCS hệ tập trung đòi hỏi NCS phải toàn tâm toàn ý mới có thể hoàn thành được.

Hầu hết các vấn đề nghiên cứu khoa học để thực hiện luận án của NCS tại Viện CNMT chưa được gắn kết chặt chẽ với các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, nên rất khó để nhận sự hỗ trợ về mọi mặt từ nguồn này.

Ngoại ngữ còn là rào cản, nó đòi hỏi thời gian và sự tập trung mà các NCS còn thiếu.

Ngoài ra các NCS phải học bổ sung một số môn học chuyển đổi để phù hợp với chuyên ngành đào tạo TS tại cơ sở. Hiện nay, Viện CNMT chưa được phép đào tạo các môn học bổ sung chuyển đổi, nên các NCS phải đăng ký học bổ sung tại các cơ sở đào khác bên ngoài, không được chủ động về mặt thời gian.

2.4. Kinh phí đào tạo:

Kinh phí hỗ trợ đào tạo của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho mỗi NCS khoảng 6,5 ~ 7 triệu/năm và con số này hầu như không thay đổi từ năm 2001 cho tới nay.

Trong khuôn khổ đào tạo SĐH, Viện CNMT hiện chỉ có 01 mã ngành đào tạo Tiến sĩ, số lượng NCS không nhiều, do đó, nguồn kinh phí dành cho việc quản lý tổ chức đào tạo chỉ từ NSNN và học phí của NCS rất khiêm tốn. Việc sử dụng nguồn kinh phí đào tạo sao cho hợp lý mà vẫn thu được hiệu quả cao hiện vẫn đang là bài toán khó đối với Viện. Ban lãnh đạo Viện cũng đã đề ra một số giải pháp để cải thiện vấn đề kinh phí đào tạo, như việc tăng học phí của NCS (vì hiện nay học phí còn khá thấp đối với các trường đại học trong nước); tìm thêm sự hỗ trợ về mặt kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học của các NCS từ chính những chương trình dự án mà người hướng dẫn NCS tham gia. Vấn đề đặt ra ở đây là khi xây dựng các đề tài, dự án, phải có kinh phí dành riêng cho công tác đào tạo.

2.5. Nghiên cứu sinh:

Những NCS đang học tập và nghiên cứu tại Viện CNMT một phần là cán bộ đang công tác tại Viện và phần khác là từ các Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu, Bộ ngành khác. Yêu cầu tuyển sinh đầu vào cao, cộng với bề dày kinh nghiệm của NCS trong lĩnh vực môi trường dẫn đến trình độ của NCS khá đồng đều. Thêm vào đó, việc trở thành NCS xuất phát từ chính nhu cầu nguyện vọng cá nhân, do đó các NCS có nhận thức và ý thức cao trong việc thực hiện đào tạo trình độ tiến sĩ tại Viện CNMT. Tuy nhiên các NCS vẫn còn thụ động trong nghiên cứu, chưa độc lập đặt và giải quyết các vấn đề, mà chờ đợi nhiều từ người hướng dẫn. Điều này một phần cũng do sự hạn chế về mặt tài chính.

3. Định hướng trong công tác đào tạo tiến sĩ

3.1. Các định hướng đào tạo NCS:

Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học cao, Viện Công nghệ môi trường định ra định hướng phát triển như sau:

- Đào tạo Tiến sỹ Môi trư¬ờng có trình độ chuyên sâu;
- Tăng cường hợp tác đào tạo với các cơ sở trong và ngoài Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam;
- Tăng cường thêm đội ngũ cộng tác viên là các nhà khoa học đầu ngành;
- Khuyến khích, yêu cầu các giảng viên tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng có tầm cỡ và quy mô lớn, nhằm đào tạo Tiến sĩ gắn kết với nghiên cứu khoa học.
- Đẩy mạnh hợp tác đào tạo quốc tế, nâng cao về số lượng, năng lực và trình độ đội ngũ giảng viên kế cận;

3.2. Các giải pháp thực hiện:

Để thực hiện các định hướng đào tạo NCS trong thời gian tới, Viện Công nghệ môi trường đang xem xét áp dụng những biện pháp để huy động và phối hợp tiềm năng của các đơn vị nghiên cứu thuộc Viện và liên kết, phối hợp nghiên cứu với các đơn vị ngoài Viện xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu nghiên cứu và triển khai quy mô lớn, lâu dài, làm cơ sở cho công tác đào tạo về mọi mặt. NCS được tham gia vào thực hiện các dự án lớn sẽ có kiến thức chuyên môn vững vàng, có năng lực và khả năng thích ứng trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thuộc lĩnh vực môi trường; phát hiện và giải quyết được những vấn đề khoa học - công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ môi trường.

Viện động viên NCS tham gia vào các hội nghị hội thảo trong nước và quốc tế để có cơ hội trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, cập nhật những công nghệ mới trong lĩnh vực nghiên cứu.

Viện mở rộng hợp tác quốc tế phục vụ công tác đào tạo, chú trọng tới việc tăng số lượng và nâng cao trình độ giảng viên thông qua các chương trình đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài, đư¬a kiến thức và công nghệ mới vào giới thiệu trong đào tạo.

Mặt khác, Viện cũng khuyến khích và hỗ trợ nâng cao trình độ ngoại ngữ của NCS thông qua các lớp học ngoại ngữ mở tại Viện.

Về khía cạnh tài chính, Viện chủ động tiết kiệm trong mọi hoạt động trong đào tạo, góp phần làm giảm bớt khó khăn chung trong tình hình hiện nay.

Nguồn tin: Tuyển tập báo cáo Tham luận về thực hiện nhiệm vụ đào tạo sao đại học của các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam



Tags:
Tin liên quan