Tổng quan về hoạt động hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

22/12/2011
I. Giới thiệu chung Hợp tác quốc tế là một nhân tố quan trọng để xây dựng tiềm lực KH-CN của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Vì vậy kể từ khi thành lập cho đến nay, công tác hợp tác quốc tế luôn luôn được các thế hệ các vị lãnh đạo cấp Viện, cấp viện nghiên cứu và các nhà khoa học coi trọng. Quá trình hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có thể được chia thành ba giai đoạn như sau: 1. Thời kỳ 1975 - 1990: Đây là thời kỳ hợp tác chặt chẽ và rất có hiệu quả của Viện khoa học Việt Nam ( VKHVN ), tiền thân của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện nay với Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (VHLKH) và các VHLKH các nước Đông Âu. VKHVN và các VHLKH các nước bạn đã ký kết đều đặn các Hiệp định về hợp tác 5 năm, bao trùm hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên. Nhờ có các Hiệp định hợp tác đó VKHVN đã có thể cử được rất nhiều cán bộ khoa học giỏi đi học tập, nghiên cứu tại các trường đại học và các viện nghiên cứu của các nước bạn. Đồng thời, VKHVN cũng tiếp nhận nhiều nhà khoa học giởi của các nước bạn sang Việt Nam để thực hiện các chương trình phối hợp nghiên cứu, trao đổi khoa học, tư vấn... Các nước bạn cũng đã giúp đỡ trang bị cho VKHVN nhiều thiết bị nghiên cứu quý giá. Kết quả nổi bật của thời kỳ hợp tác này là đào tạo cán bộ. VHLKH Liên Xô và các nước Đông Âu năm đã tiếp nhận hàng trăm cán bộ nghiên cứu của VKHVN sang trao đổi khoa học, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, cộng tác viên khoa học, dự hội nghị, hội thảo. Thông qua việc hợp tác đó, VKHVN đã xây dựng cho mình một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, đủ năng lực để đảm nhận các công tác nghiên cứu và quản lý khoa học trong giai đoạn mới hiện nay. Năm 1983 đánh dấu một sự kiện quan trọng của hợp tác khoa học với Phương Tây. VKHVN và Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đã ký tại Paris Hiệp định hợp tác KH-KT. Hiệp định được ký kết đã mở ra một giai đoạn mới, tạo ra khả năng to lớn trong việc hợp tác với Cộng hoà Pháp. Hiện nay CNRS của Pháp đã chiếm vị trí hàng đầu trong các tổng thể các quan hệ hợp tác của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bên cạnh đó cũng cần phải ghi nhận sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế đối với VKHVN. Các tổ chức thuộc Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) như Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO), Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Văn hoá, khoa học, giáo dục (UNESCO) thông qua các chương trình viện trợ cho Việt Nam đã giúp đỡ trang bị các thiết bị nghiên cứu có giá trị và đào tạo cán bộ cho một số viện nghiên cứu thuộc VKHVN như Viện Vật lý, Viện kỹ thuật nhiệt đới, Viện Địa lý, Viện Hoá học các hợp chấdt thiên nhiên, Viện Công nghệ thông tin, Công ty tinh dầu. 2. Thời kỳ 1991-1994: đây là thời kỳ khó khăn về hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam khi Viện không còn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ tài chính to lớn của các VHLKH Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong khi đó, ngoài CNRS Pháp, DAAD của CHLB Đức,Viện chưa thiết lập được quan hệ hợp tác chính thức với một tổ chức khoa học nào trên thế giới. Các quan hệ hợp tác chỉ ở mức độ cấp viện nghiên cứu hoặc cá nhân các nhà khoa học. 3. Thời kỳ 1995 cho đến nay: Bắt đầu từ năm 1995 hợp tác quốc tế ở cấp độ Viện cũng như cấp viện nghiên cứu đã có nhưng bước khởi đầu phát triển. Thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ hợp tác, Lãnh đạo Viện đã luôn luôn cố gắng, nỗ lực nhằm mở rộng địa bàn hợp tác sang các nước thuộc châu Á, Tây Âu, châu Mỹ và Australia. Năm 1995, Viện đã ký được các Hiệp định hợp tác với Hội Hỗ trợ phát triển khoa học Nhật bản (JSPS), Quỹ khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KOSEF). Những năm sau đó, Viện đã ký một loạt các Hiệp định hợp tác với các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhật Bản, Hàn Quốc, Italy, Bỉ, Mỹ ... Năm 2003 Viện đã ký được ba Hiệp định hợp tác với Cơ quan nghiên cứu năng lượng nguyên tử của Pháp (MINATECH), Viện nghiên cứu quốc gia Canada (INRS), Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ (VEF) và Hội đồng nghiên cứu quốc gia Italy (CNR). Bên cạnh đó Viện vẫn cố gắng duy trì quan hệ hợp tác với những đối tác truyền thống như VHLKH Nga, VHLKH Ucraina, VHLKH Ba Lan... Hiện nay, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã mở rộng phạm vi hợp tác trên hầu hết các châu lục trên thế giới. Cộng tác hợp tác quốc tế phát triển mạnh mẽ. Nét đặc trưng của thời kỳ hiện nay là sự chủ động của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác với các đối tác, không còn bị phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài như thời kỳ trước. Nhờ có tiềm năng và uy tín khoa học của mình, Viện đã được các tổ chức khoa học nước ngoài như JSPS của Nhật bản, KOSEF của Hàn Quốc, CNRS của Pháp, công nhận là cơ quan điều phối của Việt Nam trong việc thực hiện các chương trình hợp tác với bạn. II. Quy mô hợp tác Có hai cấp hợp tác: 1. Cấp Viện: Đây là những dự án lớn, lâu dài để phục vụ những mục tiêu kinh tế, xã hội có tính chiến lược của Việt Nam với sự tham gia của nhiều viện nghiên cứu của Viện như: - Dự án "Tăng cường năng lực của Trung tâm KHTN&CNQG trong bảo vệ môi trường nước". - Dự án "Xây dựng bảo tàng thiên nhiên Việt Nam". - Dự án "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ của Việt Nam" 2. Cấp viện nghiên cứu: Đây là những dự án nghiên cứu chuyên ngành do các viện nghiên cứu thuộc Viện tiến hành hợp tác trực tiếp với các đối tác nước ngoài. Những dự án này chiếm một phần lớn và rất quan trọng trong tổng thể hợp tác của Viện. III. Hình thức hợp tác Các chương trình hợp tác KH-CN giữa Viện với nước ngoài được thực hiện theo các hình thức sau đây: a) Trao đổi cán bộ; b) Đào tạo dài hạn (thạc sĩ, tiến sĩ, sau tiến sĩ, cộng tác viên khoa học); c) Đào tạo ngắn hạn (training courses); d) Tổ chức tại Việt Nam các lớp học chuyên đề; e) Tổ chức tại Việt Nam các hội nghị, hội thảo và các seminar khoa học. IV. Kết quả hợp tác Nhiều cán bộ khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản đã đạt được trình độ quốc tế do thường xuyên được cập nhật các thông tin khoa học mới. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thông qua hợp tác quốc tế đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao. Các cán bộ khoa học trẻ được cử đi học tập ở nước ngoài đã có điều kiện để tiếp cận với nền khoa học tiên tiến của thế giới. Một số thiết bị nghiên cứu quý giá đã được các tổ chức khoa học nước ngoài trang bị để phục vụ cho nghiên cứu.


Tags:
Tin liên quan