Tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học từ keo ong Việt Nam

18/02/2020
Keo ong về mặt sinh học là hỗn hợp nhựa cây với chất tiết ra từ tuyến nước bọt của ong, được sử dụng để hàn kín tổ, giúp bảo quản mật ong, bảo vệ sự phát triển của ấu trùng, trứng và bản thân khỏi sự tấn công của tác nhân gây bệnh. Trong các loài ong, ong Ý (Apis melifera, tông Apini) và các loài ong Dú (hay còn gọi là ong không ngòi đốt stingless bee) (tông Meliponini) cho keo ong nhiều và được quan tâm nghiên cứu. Khác với ong Ý Apis melifera, các loài ong Dú phong phú về mặt số lượng loài, với hơn 500 loài trên thế giới, phân bố ở nhiều vùng địa lý khác nhau. Ở Việt Nam, theo các nghiên cứu trước đây, có khoảng hơn 10 loài ong Dú khác nhau.

Keo ong được sử dụng từ lâu trong điều trị cảm lạnh, thấp khớp, tiểu đường, đau dạ dày, và có nhiều hoạt tính sinh học đã được phát hiện như kháng khuẩn, chống oxy hóa, chống ung thư, kháng HIV. Do được ứng dụng nhiều trong thực tiễn như sản phẩm thuốc hay thực phẩm chức năng, keo ong đã thu hút rất nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. Hiện nay các nhà khoa học đã phân lập được hơn 500 hợp chất có trong keo ong mật cũng như keo ong Dú trên thế giới. Thành phần hóa học của keo ong bao gồm các hợp chất phenolic acid, phenolic ester, flavonoids, triterpenes, stilbenes, hợp chất prenyl flavanoids. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học của keo ong tại Việt Nam.

Trong khuôn khổ đề tài Hợp tác quốc tế, các nhà khoa học thuộc Viện Hóa sinh biển và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phối hợp cùng các nhà khoa học Bulgaria thuộc Viện Hóa hữu cơ với Trọng tâm Hóa thực vật thực hiện đề tài: “Tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học từ keo ong Việt Nam” - mã số: VAST.HTQT.BULGARIA.02/17-18, từ năm 2017 đến 2018, do TS. Lê Nguyễn Thành làm chủ nhiệm phía Việt Nam và GS.TSKH Vassya Bankova chủ nhiệm phía Bulgaria.

Với mong muốn nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số mẫu keo ong ở Việt Nam để tìm kiếm các hoạt chất sinh học và cung cấp thêm kiến thức khoa học về keo ong ở Việt Nam, các nhà khoa học đã tiến hành thực hiện đề tài và thu thập được 6 mẫu keo ong, đánh giá hoạt tính gây độc tế bào và chống oxy hóa, mẫu KO-6 thu tại Bình định (keo ong Lisotrigona furva) có tác dụng tốt nên được lựa chọn nghiên cứu.

T8.lnthanh1
Hình 1. Mẫu keo ong dú KO-6

Phân lập được 8 hợp chất từ mẫu KO-6, bao gồm δ-tocotrienol (1), 3 triterpene: (13E, 17E)-polypoda-7,13,17,21-tetraen-3β-ol (2), hydroxypopanone (7), mangiferolic acid (8); 4 xanthon Cochinchinon A (3), 9-Hydroxycalabaxanthon (4), Cochinchinon I (5), Cochinchinon J (6). Trong đó, 5 hợp chất 2, 3, 5-7 được phân lập lần đầu tiên từ keo ong Dú. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học gợi ý cho biết cây Craxytolum cochinchinenese và Mangifera indica là nguồn nhựa cho keo ong Dú Lisotrigona furva. Kết quả thử hoạt tính sinh học 5 hợp chất 2-6 cho thấy tác dụng chống ung thư tương đối tốt trên dòng tế bào ung thư phổi LU, mạnh hơn các dòng tế bào ung thư khác. Trong đó, có 2 chất thể hiện hoạt tính chọn lọc, mạnh nhất là 9-Hydroxycalabaxanthon (4) và Cochinchinon I (5) trên dòng tế bào ung thư phổi với giá trị IC50 đều là 4.00 µg/ml.

T8.lnthanh2
Hình 2. Các hợp chất phân lập từ keo ong dú Lisotrigona furva

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng đã phát hiện được hơn 30 hợp chất, với nhiều hợp chất được phân lập lần đầu tiên từ keo ong. Ba loài cây Máu rồng Dracaena cochinchinensis, Thành ngạch nam (C. cochinchinenese) và cây Xoài M. indica cũng được phát hiện là nguồn thực vật. Một số hợp chất phân lập thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tốt và chống oxy hóa khá tốt.

Đề tài đã công bố 03 bài báo trên tạp chí quốc tế:  01 bài trên tạp chí PLOS ONE (thuộc danh mục SCIE),  02 bài trên các hội thảo quốc tế ở Croatia và Bulgaria, 01 bài trên Tạp chí Dược học; đồng thời hỗ trợ đào tạo 01 Thạc sỹ và 01 cử nhân.

Một số bài báo cụ thể:

  1. Kristina Georgieva, Milena Popova, Lyudmila Dimitrova, Boryana Trusheva, Le Nguyen Thanh, Diep Thi Lan Phuong, Nguyen Thi Phuong Lien, Hristo Najdenski, Vassya Bankova. Phytochemical analysis of Vietnamese propolis produced by the stingless bee Lisotrigona cacciae. PLOS ONE 2019, 14(4): e0216074.
  2. Hà Thị Thoa, Hoàng Thị Vân, Vũ Thị Kim Oanh, Diệp Thị Lan Phương, Nguyễn Quỳnh Chi, Lê Nguyễn Thành, Các hợp chất xanthone phân lập từ keo ong dú (Lisotrigona furva Engel), Tạp chí Dược học, 2018, 58 (10), 22-24.

Sau 2 năm thực hiện, ngày 8/8/2019 đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt loại Xuất sắc.

Những kết quả thu được của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc đóng góp những dữ liệu khoa học đầu tiên về keo ong của các loài ong dú Lisotrigona sp. ở Việt Nam và trên thế giới.

 

Nguồn tin: Lê Nguyễn Thành - Viện Hóa sinh biển
Người xử lý: MInh Tâm


Tags:
Tin liên quan