Giao ban vùng Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ XV: Bàn thảo 2 vấn đề trọng tâm về phát triển kinh tế biển và dược liệu

03/07/2019
Trong khuôn khổ Hội nghị giao ban Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ XV (diễn ra trong 2 ngày 20, 21/6/2019 tại thành phố Đà Nẵng), Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức 02 Hội nghị khoa học tập trung trao đổi các vấn đề có tính liên tỉnh, liên vùng như phát triển kinh tế biển và dược liệu.

Hội nghị khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Chiều ngày 20/6/2019, tại Trung tâm Hành chính Đà Nẵng, Hội nghị Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển đã được tổ chức. Chủ trì Hội nghị là Ông Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Ông Nguyễn Trung Chinh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Tham dự Hội nghị còn có hơn 200 đại biểu đến từ các Sở khoa học và công nghệ của các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Hội nghị thảo luận các nội dung chính sau đây:

- Đánh giá về tiềm năng, lợi thế của biển đảo Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Một vùng có vị trí hết sức quan trọng trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển của nước ta;
- Xác định thực trạng và những đóng góp hiện nay, vị trí và vai trò của KHCN đối với phát triển bền vững kinh tế biển của Vùng trong tương lai;
- Trao đổi bàn bạc các giải pháp để phát triển KHCN mạnh mẽ hơn, phục vụ có hiệu quả hơn cho phát triển bền vững kinh tế biển trong Vùng nói riêng cũng như cho Chiến lược phát triển kinh tế biển của cả nước nói chung, theo đúng tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TƯ ngày 22/10/2018 của BCH TƯ về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. 

Tham gia tại Hội nghị, Viện Hàn lâm KHCNVN đóng góp 4 báo cáo, gồm:

- Một số vấn đề khoa học liên quan quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật hướng đến phát triển kinh tế biển bền vững ở duyên hải Nam Trung bộ, Việt Nam (Viện Hải dương học).
- Thực trạng và những giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề xói lở, bồi lấp cửa song cửa biển vùng duyên hải Nam Trung bộ (Viện Địa lý).
- Một số kết quả nghiên cứu KHCN biển phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên (Viện Hải dương học).
- Ứng dụng công nghệ viễn thám trong quan trắc giám sát chất lượng nước ven bờ phục vụ kinh tế biển vùng duyên hải Nam Trung bộ (Viện Công nghệ môi trường).

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định: “Phát triển kinh tế biển luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, sau 10 năm triển khai Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Ban Chấp hành TƯ Đảng đã tiến hành tổng kết và ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, Vùng duyên hải Nam Trung Bộ (năm trong vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung) được xác định là một trong 4 vùng trọng tâm trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển”.

Nam Trung Bộ và các tỉnh trong vùng có những lợi thế chiến lược và tiềm năng độc đáo cho phát triển kinh tế biển xanh và bền vững, mà nòng cốt là phải bảo toàn được “nguồn vốn tự nhiên”, cùng với việc chú trọng sử dụng các “nguồn lực không trần” do cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại.

Cần chuyển “yếu thế” trong vùng lợi thế và từ lợi thế chuyển thành lợi ích cho kinh tế biển toàn vùng và cho đất nước trên cơ sở tôn trọng các yếu tố đặc thù, các giá trị cốt lõi trong vùng và từng địa phương, bảo đảm tốt liên kết vùng trong phát triển “chuỗi” khu kinh tế biển – đảo, chuỗi đô thị ven biển và chuỗi đô thị đảo. Thực trạng và tiềm năng phát triển của vùng biển Nam Trung Bộ đòi hỏi phải thay đổi tầm nhìn, xóa bỏ định kiến trong chiến lược phát triển kinh tế biển theo hướng từ “nâu” sang “xanh lam”, hướng tới phát triển bền vững và thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy cơ hội, khắc phục thách thức để kinh tế biển vùng này bứt phá trong dài hạn.

Khoa học và công nghệ phải thực sự là khâu đột phá để thực hiện thành công Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 ở vùng Nam Trung Bộ. Trong đó, cần thiết phải đầu tư nhiều hơn cho khoa học và công nghệ, cũng như đổi mới phương thức thu hút đầu tư từ các nguồn lực quốc tế, và khu vực tư nhân trong nước.

Hội nghị Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển dược liệu vùng Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ

Sáng ngày 21/6, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế và các Bộ ngành liên quan cùng UBND TP Đà Nẵng đã tổ chức hội nghị “Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển dược liệu vùng Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ”.

Chủ trì hội nghị có Ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ, PGS. TS Phạm Vũ Khánh, Cục trưởng Cục quản lý Y dược cổ truyền, Bộ Y tế, Ông Lê Trung Chinh, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, cùng đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố, ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ và các nhà khoa học, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dược phẩm.

Theo báo cáo của Viện Dược liệu, hiện nay, các ứng dụng khoa học công nghệ tập trung vào sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nhiều công nghệ và phương pháp nghiên cứu tiên tiến như: Viễn thám, định vị vệ tinh được ứng dụng để đánh giá thực trạng nguồn tài nguyên dược liệu. Vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đã triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ để phát triển sản phẩm dược liệu, trong đó tiêu biểu như: Hoàn thiện quy trình sản xuất piperin và tích hợp công nghệ thu tinh dầu trong quá trình chế biến tiêu trắng tại tỉnh Đắk Nông; nghiên cứu công nghệ tách chiết sản xuất viên nang và trà hòa tan hỗ trợ bệnh cao huyết áp và mỡ máu từ đài hoa bụp giấm; nghiên cứu chiết tách phân đoạn kháng oxy hóa từ quả me rừng; sản xuất cao khô từ lá dâu tằm…

Để quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên và phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (tại quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013). Đây là cơ sở quan trọng để phát triển dược liệu mà khoa học công nghệ được xác định là một trong các giải pháp trọng tâm.

Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Văn Tùng, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ là vùng có tiềm năng to lớn về phát triển dược liệu. Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu của Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã xác định đây là 2 vùng phát triển dược liệu trọng điểm. Trong những năm gần đây, các địa phương trong vùng đã có nhiều quan tâm, chú trọng đến công tác phát triển dược liệu. Nhiều tỉnh đã triển khai, thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu, đánh giá tiềm năng, lợi thế; xây dựng quy hoạch, chương trình, thông qua nghị quyết về phát triển dược liệu để phát triển kinh tế địa phương. Nhờ đó mà đã tạo ra được nhiều sản phẩm dược liệu mới phục vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.

Nhiều chương trình dự án về khoa học công nghệ như: Chương trình Tây Nguyên, Chương trình sản phẩm quốc gia sâm ngọc linh, nhiều nhiệm vụ khoa học của các chương trình khác nhau như Chương trình Quỹ gen, Chương trình Nông thôn mới… đã triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào cuộc sống trong đó có thúc đẩy phát triển dược liệu.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển trong thời gian qua cho thấy, ngành dược liệu của vùng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tạo ra chưa nhiều. Nhiều loại dược liệu quý chưa được quy hoạch, phát triển chuỗi giá trị dẫn đến hiệu quả thấp, có nguy cơ cạn kiệt.

Bên cạnh đó, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển dược liệu còn hạn chế; chưa có chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển ngành dược liệu; chưa có sự liên kết chặt chẽ trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dược liệu; công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu dược liệu của các tỉnh trong vùng còn yếu kém.

Bàn giải pháp để đẩy mạnh phát triển vùng dược liệu, PGS.TS Lê Việt Dũng, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu (Bộ Y tế) cho rằng: Cần xây dựng cơ chế đặc thù đối với công tác phát triển dược liệu ở địa phương để phục hồi, phát triển các vùng trồng dược liệu truyền thống; cần có chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp triển khai nuôi trồng, khai thác và phát triển dược liệu; ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất theo hướng hàng hóa hiện đại và phù hợp với cách mạng 4.0 trong phát triển dược liệu.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Toàn Phan - Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), một trong những nhiệm vụ hàng đầu của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là triển khai các hoạt động bảo tồn. Nhìn chung, các loài thực vật được bảo vệ nguyên vị (in situ) tương đối tốt, đặc biệt trong các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, ban quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ, duy trì hiện trạng đa dạng sinh học của khu vực quản lý. Công tác bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên được thực hiện thông qua các dự án bảo tồn, triển khai thực hiện nhiều đề tài khoa học và các dự án quốc tế với tài trợ từ nhiều tổ chức phi chính phủ.

Bảo tồn chuyển vị (ex situ) là cách thức di chuyển đối tượng bảo tồn khỏi vị trí mà chúng tồn tại và được lưu giữ trong ngân hàng gen, bảo tàng hoặc cũng có thể di chuyển đối tượng cần bảo tồn đến vị trí, địa điểm phù hợp hơn như vườn thực vật, vườn cây thuốc để bảo tồn các loài quý hiếm. Bảo tồn chuyển vị đã đóng góp đáng kể cho hoạt động bảo tồn các loài thực vật đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên. Đây là hoạt động chủ yếu trong thời gian qua vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn vừa phục vụ cho công tác phát triển giống của các loài dược liệu quý hiếm. Dựa trên cơ sở phát hiện các loài dược liệu quý hiếm, nhiều đơn vị nghiên cứu trong nước đã tiến hành thu thập mẫu giống và sử dụng các kỹ thuật sinh học, kỹ thuật nông nghiệp để nhân giống, gây trồng ở các khu vực khác ngoài vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên.

Nhân dịp này, những sản phẩm KH&CN đặc trưng, đã được hoàn thiện và thương mại hóa của các địa phương Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, các sản phẩm và công nghệ nổi bật trong lĩnh vực dược liệu và lĩnh vực biển của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng được trưng bày giới thiệu đến người dân, doanh nghiệp, như các mẫu san hô quý hiếm của Viện Hải dương học, sản phẩm công nghệ biển (giám sát tàu cá, máy làm đá tuyết) của Trung tâm Phát triển công nghệ cao, nhiều sách, báo tạp chí quỹ hiếm... và hàng chục sản phẩm Y - Dược là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học đã được thương mại hóa của nhiều viện chuyên ngành trong Viện Hàn lâm KHCNVN cũng được giới thiệu đến với các đại biểu tham dự Hội nghị.

Hội nghị giao ban KH&CN vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên lần thứ XVI sẽ được tổ chức vào năm 2021 tại tỉnh Đắk Lắk.

Một số hình ảnh về Hội thảo và Triển lãm

Hội thảo KHCN Biển

 

Hội thảo dược liệu

Gian trưng bày Triển lãm của Viện Hàn lâm KHCNVN

Nguồn tin: Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ
Xử lý tin: Mai Lan

Người xử lý: Ban Biên tập Thử nghiệm Thử nghiệm


Tags:
Tin liên quan

Giới thiệu Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Ngày 15/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 60/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Theo đó, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ; cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là: Vietnam Academy of Science and Technology, viết tắt là VAST.

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN

1. Về chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch:

a)    Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các dự án, đề án quan trọng của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và tổ chức thực hiện sau khi phê duyệt.
b)    Tham gia thẩm định trình độ công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh tế-kỹ thuật các công trình trọng điểm, quan trọng của Nhà nước và của các địa phương theo sự phân công của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c)    Quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định của pháp luật.

2. Về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ:

a)    Nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực: Toán học; vật lý; hóa học; sinh học; công nghệ sinh học; công nghệ thông tin; điện tử; tự động hóa; công nghệ vũ trụ; khoa học vật liệu; đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học; khoa học trái đất; khoa học và công nghệ biển; môi trường và năng lượng; dự báo, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;
b)    Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và môi trường;
c)    Triển khai, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ;
d)    Đề xuất và chủ trì thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia theo phân công củ cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
e)    Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

3. Về thực hiện dịch vụ công:

a)    Tổ chức triển khai thực hiện các dịch vụ công được Chính phủ giao theo quy định của pháp luật;
b)    Kiểm tra việc tổ chức thực hiện dịch vụ công đối với các đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật.

4.    Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện chương trình cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

5.    Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao; tổ chức đào tạo đại học và sai đại học về khoa học tự nhiên và công nghệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.

6.    Tư vấn các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và dự án phát triển khoa học và công nghệ quan trọng trong phạm vi chức năng được giao theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

7.    Về hợp tác quốc tế:

a)    Thực hiện hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật;
b)    Đề xuất việc ký, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế, tạm đình chỉ việc thực hiện điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật;
c)    Tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
d)    Ký kết, sửa đổi, bổ sung, gia hạn thỏa thuận quốc tế, chấm dứt hiệu lực, tạm đình chỉ thực hiện thỏa thuận quốc tế nhân danh Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định của pháp luật.
đ) Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án quốc tế tài trợ theo quy định của pháp luật;
e) Tổ chức, tham gia các hội nghị, hội thảo, chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;
g) Tổ chức hợp tác nghiên cứu và liên kết đào tạo về khoa học và công nghệ với các tổ chức quốc tế, các viên nghiên cứu và trường đại học nước ngoài theo quy định của pháp luật.

8. Về chế độ thông tin, báo cáo:

a) Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị, chính sách, chế đội và pháp luật của Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực được giao;
b) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả hoạt động của cơ quan theo quy định của pháp luật;
c) Báo cáo và cung cấp thông tin động đất, cảnh báo sóng thần với cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

9. Về tổ chức bộ máy:

a) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, đổi tên các tổ chức, đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt nam theo quy định của pháp luật;
b) Quản lý về tổ chức, bộ máy, biên chế công chức, số lượng người làm việc, vị trí việc làm, cơ cấu công chức, viên chức theo ngạch, chức danh nghề nghiệp; quyết định luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật; chế độ, chính sách, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

10. Về quản lý tài chính, tài sản:

a) Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm, kế hoạch tài chính-ngân sách 03 năm trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;
b) Quản lý tài chính, tài sản được giao của VIện theo quy định của pháp luật.

11. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao

CƠ CẤU TỔ CHỨC

Viện Hàn lâm KHCNVN có 51 đơn vị trực thuộc bao gồm: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học (28 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và 06 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 07 đơn vị sự nghiệp khác; 04 đơn vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước.

Các đơn vị của Viện đóng tập trung tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh. Một số đơn vị đóng tại Phú Thọ, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Lạt. Ngoài ra, Viện còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu,... Viện Vật lý địa cầu hiện đang quản lý 53 đài, trạm trở thành đơn vị có số đài trạm lớn nhất trong Hệ thống.

CƠ SỞ VẬT CHẤT

Trong nhiều năm qua Viện Hàn lâm KHCNVN được Nhà nước từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ trong đó có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật, cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp viện khác. Nhiều Phòng thí nghiệm của Viện được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện.

Viện có các khu sản xuất thử nghiệm nhằm trực tiếp phục vụ công tác phát triển công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế. Viện đang tích cực trình Chính phủ xây dựng Khu Công nghệ cao của Viện tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

NHÂN LỰC KHOA HỌC

Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của Viện là khá ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ; lực lượng cán bộ có trình độ cao khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên. Lực lượng cán bộ trình độ cao luôn là thế mạnh của Viện trong thời gian qua (so với các đơn vị nghiên cứu và triển khai cũng như các trường đại học trong cả nước).

Trong những năm gần đây, Viện luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao (Tiến sỹ, Thạc sỹ) cho các đơn vị của mình cũng như phục vụ chung cho đất nước. Hàng năm có hàng chục tiến sỹ mới bảo vệ và đào tạo hàng trăm thạc sỹ thuộc các chuyên môn khác nhau trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Các đơn vị trong Viện còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạo tại nước ngoài nhằm bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao.

CÁC HOẠT ĐỘNG THƯỜNG XUYÊN

Viện Hàn lâm KHCNVN đang tập trung thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ theo Quy hoạch phát triển Viện Hàn lâm KHCNVN đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011 với mục tiêu tổng quát là xây dựng Viện trở thành một trung tâm khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ chuyên môn cao, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đạt trình độ tiên tiến trên thế giới, có quan hệ hợp tác quốc tế sâu rộng với nhiều nước có nền khoa học và công nghệ phát triển, đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ và sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

Trọng tâm công tác của Viện hàng năm bao gồm:

  • Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ do Chính phủ giao trực tiếp, các chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước, các chương trình KHCN cấp nhà nước do Viện Hàn lâm KHCNVN chủ trì, chương trình nghiên cứu cơ bản do Quỹ NAFOSTED quản lý, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Viện Hàn lâm KHCNVN.
  • Thực hiện các đề tài, nhiệm vụ, dự án thuộc các chương trình Chương trình Biển Đông – Hải Đảo, Chương trình MTQG về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, sự nghiệp môi trường, các dự án điều tra cơ bản, biến đổi khí hậu, ...
  • Đẩy mạnh triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào phục vụ thực tiễn sản xuất và đời sống, các dự án sản xuất thử nghiệm, các hợp đồng sản xuất và dịch vụ khoa học và công nghệ của các đơn vị và các doanh nghiệp nhà nước.
  • Thực hiện các nhiệm vụ đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ sở làm việc, tăng cường trang thiết bị nghiên cứu và xây dựng các phòng thí nghiệm, các khu sản xuất và thử nghiệm, các trạm trại về tài nguyên và môi trường.
  • Tích cực triển khai chương trình thu hút nhân tài, hỗ trợ các cán bộ trẻ.
  • Thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Viện, quản lý, sử dụng đúng và hiệu quả ngân sách nhà nước,‎ mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, thông tin xuất bản, đẩy mạnh kết hợp nghiên cứu với đào tạo đại học và sau đại học.

Hiện tại, Viện đang chủ trì triển khai và tham gia tích cực vào một số dự án quan trọng sau đây:

  • Thực hiện Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 bao gồm một số dự án lớn như: các dự án Vệ tinh nhỏ Việt Nam quan sát Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai (VNREDSAT-1và VNREDSat-1B), dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và Chương trình KHCN vũ trụ.
  • Đề án “Quy hoạch hệ thống Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam”: Nâng cấp hệ thống các bảo tàng thuộc Viện KHCNVN, triển khai dự án “Bộ mẫu vật quốc gia của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam”.
  • Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển, điều tra khảo sát trên Biển Đông, hợp tác quốc tế trong điều tra khảo sát Biển Đông.
  • Dự án “Tăng cường mạng lưới trạm quan sát động đất phục vụ công tác báo tin động đất và cảnh báo sóng thần”: Xây dựng hệ thống trạm địa chấn và Trung tâm xử lý số liệu động đất có khả năng ghi nhận đầy đủ và nhanh chóng xác định các thông số động đất cường độ dưới 3,5 độ Richter xảy ra trên đất liền và vùng biển gần bờ, các trận động đất cường độ dưới 6,5 độ Richter treen toàn vùng biển Đông Việt Nam.
  • Chủ trì thực hiện Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên môi trường và KT - XH nhằm đề xuất chiến lược KH&CN phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn 2030” (Chương trình Tây Nguyên III).
  • Chủ trì thực hiện Chương trình khoa học công nghệ vũ trụ.

Các hướng KHCN trọng điểm của Viện đã được Chính phủ phê duyệt:

  • Công nghệ thông tin, điện tử, tự động hoá và công nghệ vũ trụ
  • Công nghệ sinh học
  • Khoa học vật liệu
  • Đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học
  • Khoa học trái đất
  • Khoa học và công nghệ biển
  • Môi trường và năng lượng

Trong những năm qua, 4 nhà khoa học lớn của Viện đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, nhiều tập thể và cá nhân đã được tặng giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ và các giải thưởng khoa học khác. Nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành đã được tặng thưởng Huân chương cao quý của Nhà nước.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 2000), Cờ Thi đua của Chính phủ (năm 2008, 2009) và Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2010).

 

Tổng quan về hoạt động hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

I. Giới thiệu chung

Hợp tác quốc tế là một nhân tố quan trọng để xây dựng tiềm lực KH-CN của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Vì vậy kể từ khi thành lập cho đến nay, công tác hợp tác quốc tế luôn luôn được các thế hệ các vị lãnh đạo cấp Viện, cấp viện nghiên cứu và các nhà khoa học coi trọng. Quá trình hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có thể được chia thành ba giai đoạn như sau:

1. Thời kỳ 1975 - 1990: Đây là thời kỳ hợp tác chặt chẽ và rất có hiệu quả của Viện khoa học Việt Nam ( VKHVN ), tiền thân của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện nay với Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (VHLKH) và các VHLKH các nước Đông Âu. VKHVN và các VHLKH các nước bạn đã ký kết đều đặn các Hiệp định về hợp tác 5 năm, bao trùm hết các lĩnh vực của khoa học tự nhiên. Nhờ có các Hiệp định hợp tác đó VKHVN đã có thể cử được rất nhiều cán bộ khoa học giỏi đi học tập, nghiên cứu tại các trường đại học và các viện nghiên cứu của các nước bạn. Đồng thời, VKHVN cũng tiếp nhận nhiều nhà khoa học giởi của các nước bạn sang Việt Nam để thực hiện các chương trình phối hợp nghiên cứu, trao đổi khoa học, tư vấn... Các nước bạn cũng đã giúp đỡ trang bị cho VKHVN nhiều thiết bị nghiên cứu quý giá.

Kết quả nổi bật của thời kỳ hợp tác này là đào tạo cán bộ. VHLKH Liên Xô và các nước Đông Âu năm đã tiếp nhận hàng trăm cán bộ nghiên cứu của VKHVN sang trao đổi khoa học, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, cộng tác viên khoa học, dự hội nghị, hội thảo. Thông qua việc hợp tác đó, VKHVN đã xây dựng cho mình một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, đủ năng lực để đảm nhận các công tác nghiên cứu và quản lý khoa học trong giai đoạn mới hiện nay.

Năm 1983 đánh dấu một sự kiện quan trọng của hợp tác khoa học với Phương Tây. VKHVN và Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) đã ký tại Paris Hiệp định hợp tác KH-KT. Hiệp định được ký kết đã mở ra một giai đoạn mới, tạo ra khả năng to lớn trong việc hợp tác với Cộng hoà Pháp. Hiện nay CNRS của Pháp đã chiếm vị trí hàng đầu trong các tổng thể các quan hệ hợp tác của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Bên cạnh đó cũng cần phải ghi nhận sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế đối với VKHVN. Các tổ chức thuộc Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) như Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO), Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Văn hoá, khoa học, giáo dục (UNESCO) thông qua các chương trình viện trợ cho Việt Nam đã giúp đỡ trang bị các thiết bị nghiên cứu có giá trị và đào tạo cán bộ cho một số viện nghiên cứu thuộc VKHVN như Viện Vật lý, Viện kỹ thuật nhiệt đới, Viện Địa lý, Viện Hoá học các hợp chấdt thiên nhiên, Viện Công nghệ thông tin, Công ty tinh dầu.

2. Thời kỳ 1991-1994: đây là thời kỳ khó khăn về hợp tác quốc tế của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam khi Viện không còn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ tài chính to lớn của các VHLKH Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong khi đó, ngoài CNRS Pháp, DAAD của CHLB Đức,Viện chưa thiết lập được quan hệ hợp tác chính thức với một tổ chức khoa học nào trên thế giới. Các quan hệ hợp tác chỉ ở mức độ cấp viện nghiên cứu hoặc cá nhân các nhà khoa học.

3. Thời kỳ 1995 cho đến nay: Bắt đầu từ năm 1995 hợp tác quốc tế ở cấp độ Viện cũng như cấp viện nghiên cứu đã có nhưng bước khởi đầu phát triển. Thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ hợp tác, Lãnh đạo Viện đã luôn luôn cố gắng, nỗ lực nhằm mở rộng địa bàn hợp tác sang các nước thuộc châu Á, Tây Âu, châu Mỹ và Australia. Năm 1995, Viện đã ký được các Hiệp định hợp tác với Hội Hỗ trợ phát triển khoa học Nhật bản (JSPS), Quỹ khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KOSEF). Những năm sau đó, Viện đã ký một loạt các Hiệp định hợp tác với các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhật Bản, Hàn Quốc, Italy, Bỉ, Mỹ ... Năm 2003 Viện đã ký được ba Hiệp định hợp tác với Cơ quan nghiên cứu năng lượng nguyên tử của Pháp (MINATECH), Viện nghiên cứu quốc gia Canada (INRS), Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ (VEF) và Hội đồng nghiên cứu quốc gia Italy (CNR). Bên cạnh đó Viện vẫn cố gắng duy trì quan hệ hợp tác với những đối tác truyền thống như VHLKH Nga, VHLKH Ucraina, VHLKH Ba Lan...

Hiện nay, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã mở rộng phạm vi hợp tác trên hầu hết các châu lục trên thế giới. Cộng tác hợp tác quốc tế phát triển mạnh mẽ. Nét đặc trưng của thời kỳ hiện nay là sự chủ động của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác với các đối tác, không còn bị phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài như thời kỳ trước.

Nhờ có tiềm năng và uy tín khoa học của mình, Viện đã được các tổ chức khoa học nước ngoài như JSPS của Nhật bản, KOSEF của Hàn Quốc, CNRS của Pháp, công nhận là cơ quan điều phối của Việt Nam trong việc thực hiện các chương trình hợp tác với bạn.

II. Quy mô hợp tác

Có hai cấp hợp tác:

1. Cấp Viện: Đây là những dự án lớn, lâu dài để phục vụ những mục tiêu kinh tế, xã hội có tính chiến lược của Việt Nam với sự tham gia của nhiều viện nghiên cứu của Viện như:

- Dự án "Tăng cường năng lực của Trung tâm KHTN&CNQG trong bảo vệ môi trường nước".

- Dự án "Xây dựng bảo tàng thiên nhiên Việt Nam".

- Dự án "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ của Việt Nam"

2. Cấp viện nghiên cứu: Đây là những dự án nghiên cứu chuyên ngành do các viện nghiên cứu thuộc Viện tiến hành hợp tác trực tiếp với các đối tác nước ngoài. Những dự án này chiếm một phần lớn và rất quan trọng trong tổng thể hợp tác của Viện.

III. Hình thức hợp tác

Các chương trình hợp tác KH-CN giữa Viện với nước ngoài được thực hiện theo các hình thức sau đây:

a) Trao đổi cán bộ;

b) Đào tạo dài hạn (thạc sĩ, tiến sĩ, sau tiến sĩ, cộng tác viên khoa học);

c) Đào tạo ngắn hạn (training courses);

d) Tổ chức tại Việt Nam các lớp học chuyên đề;

e) Tổ chức tại Việt Nam các hội nghị, hội thảo và các seminar khoa học.

IV. Kết quả hợp tác

  1. Nhiều cán bộ khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản đã đạt được trình độ quốc tế do thường xuyên được cập nhật các thông tin khoa học mới.

  2. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thông qua hợp tác quốc tế đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao.

  3. Các cán bộ khoa học trẻ được cử đi học tập ở nước ngoài đã có điều kiện để tiếp cận với nền khoa học tiên tiến của thế giới.

  4. Một số thiết bị nghiên cứu quý giá đã được các tổ chức khoa học nước ngoài trang bị để phục vụ cho nghiên cứu.

Giải thưởng Trần Đại Nghĩa

traogiaitdnlt1 traogiaitdnlt12

traogiaitdnlt13 traogiaitdnlt14

traogiaitdnlt15 traogiaitdnlt16

Một số hình ảnh về lễ trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa lần thứ 1

GS.VS. Trần Đại Nghĩa là Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đặt nền móng cho sự phát triển của Viện. Ghi nhận và biểu dương những cống hiến không mệt mỏi trong suốt cuộc đời lao động khoa học đầy say mê và sáng tạo của Ông, ngày 16/11/2015, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ra Quyết định số 1883/QĐ-VHL về việc Ban hành Quy chế giải thưởng Trần Đại Nghĩa.

Sau năm đầu tiên thực hiện thành công Giải thưởng Trần Đại Nghĩa (sau đây gọi tắt là Giải thưởng), lần thứ hai thực hiện Giải thưởng với quy mô lớn hơn và mở rộng phạm vi đến các đối tác quốc tế, ngày 10/9/2018, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ra Quyết định số 1617/QĐ-VHL về việc Ban hành Quy chế Giải thưởng Trần Đại Nghĩa sửa đổi.

Giải thưởng này của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu xuất sắc nhất về khoa học tự nhiên và công nghệ; tham gia tổ chức triển khai ứng dụng các kết quả đó để đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng của đất nước. Giải thưởng được trao tặng vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Viện Hàn lâm KHCNVN và Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Đây là một giải thưởng có quy chế mở, áp dụng đối với các nhà khoa học người Việt Nam và nước ngoài đã chủ trì các công trình nghiên cứu xuất sắc thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín hoặc được cấp văn bằng sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước (bao gồm cả quyền tác giả); tham gia triển khai ứng dụng các công trình đó ở Việt Nam; đã có đóng góp hoặc có triển vọng đóng góp đem lại hiệu quả lớn về kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng cho đất nước.

Hội đồng xét Giải thưởng do Chủ tịch Viện Hàn lâm KHCNVN quyết định thành lập (5-7 thành viên), hoạt động theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, tiến hành bỏ phiếu kín. Viện Hàn lâm KHCNVN sẽ trao Giải thưởng cho tác giả có công trình khoa học xuất sắc khi có tỉ lệ phiếu bầu đồng ý đạt 3/4 trở lên tính trên tổng số thành viên tham dự.

Mục đích, ý nghĩa

Giải thưởng Trần Đại Nghĩa (sau đây gọi tắt là Giải thưởng) là giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, góp phần thúc đẩy khoa học công nghệ Việt Nam hội nhập và phát triển.

Các lĩnh vực xét tặng Giải thưởng Trần Đại Nghĩa

Các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ thuộc phạm vi xét tặng Giải thưởng, bao gồm:
a)   Toán học;
b)   Cơ học;
c)   Khoa học thông tin và khoa học máy tính;
d)   Vật lý;
e)   Hóa học;
f)    Các Khoa học về sự sống;
g)   Các Khoa học về trái đất;
h)   Khoa học biển;
i)    Khoa học môi trường và năng lượng.

Đối tượng áp dụng

Các nhà khoa học người Việt Nam và nước ngoài đã chủ trì các công trình nghiên cứu xuất sắc thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín hoặc được cấp văn bằng sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước (bao gồm cả quyền tác giả); tham gia  triển khai ứng dụng các công trình đó ở Việt Nam; đã có đóng góp hoặc có triển vọng đóng góp đem lại hiệu quả lớn về kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng cho đất nước

Cơ cấu Giải thưởng

Giải thưởng được trao tặng ít nhất 3 năm 1 lần vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Mỗi lần trao tặng không quá 3 Giải thưởng, mỗi Giải thưởng không quá 3 người.
Trường hợp tiền thưởng do tổ chức, cá nhân đóng góp thì niên hạn tổ chức Giải thưởng có thể dưới 3 năm.

Quyền lợi của nhà khoa học đạt Giải thưởng

- Được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
- Được nhận Tiền thưởng.

Thời gian xét Giải thưởng

- Các cá nhân nộp hồ sơ đăng ký xét tặng Giải thưởng Trần Đại Nghĩa cho Cơ quan thường trực Giải thưởng từ ngày 13/9/2018 đến hết ngày 31/12/2018

Hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng

Hồ sơ đề nghị xét tặng do tổ chức hoặc nhà khoa học có uy tín thông qua tổ chức có tư cách pháp nhân giới thiệu ứng viên hoặc do ứng viên tự đề cử và gửi đến Hội đồng Giải thưởng.

Hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng (được niêm phong) bao gồm:

a) Bản giới thiệu ứng viên được đề nghị xét tặng Giải thưởng (mẫu TĐN01) hoặc Bản Đăng ký tham gia xét tặng Giải thưởng (mẫu TĐN02);
b) Bản thuyết minh các công trình khoa học được xem xét và bản sao các công trình khoa học, các văn bằng sở hữu trí tuệ có liên quan (mẫu TĐN03);
c) Lý lịch khoa học của ứng viên (mẫu TĐN04);
d) 01 bản điện tử ghi trên đĩa quang (dạng PDF);
đ) Các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả đánh giá của các Hội đồng khoa học chuyên ngành, Cơ quan thường trực tổng hợp kết quả và thông báo tới các tác giả của công trình khoa học được lựa chọn xem xét tại Hội đồng Giải thưởng về việc bổ sung hồ sơ và bản xác nhận mức độ đóng góp đối với công trình khoa học từ các tác giả còn lại của công trình (nếu có). Tài liệu bổ sung này gửi tới Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo thời hạn đã được thông báo.

Thông tin chi tiết xin liên hệ:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Cơ quan thường trực Giải thưởng:Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ.
Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà Trung tâm,18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
ThS. Phạm Thị Phượng. ĐT: 0904 998 693. Cố định: 024 37912613
Email: phamphuongud@vast.vn; Website: http://vast.ac.vn/

Sơ lược tiểu sử GS.VS.Trần Đại Nghĩa

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, một miền quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ và chị gái đã tần tảo nuôi ăn học, Phạm Quang Lễ luôn ghi nhớ lời căn dặn cuối cùng của cha trước khi đi xa: “...phải lo học hành đến nơi đến chốn,… phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”. Giữa năm 1933, người thanh niên thông minh giàu nghị lực Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài ta và tú tài tây. Nhưng vì nhà nghèo, không có tiền đi Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết định đi làm để giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ.

Năm 1935, ông đi du học Pháp và sau những năm tháng học tập cần cù, với trí thông minh và nghị lực cao, Phạm Quang Lễ đã nhận được cùng một lúc ba bằng đại học: Kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện và cử nhân toán học. Sau đó lấy tiếp bằng Kỹ sư hàng không, bằng của Trường Mỏ và Trường Đại học Bách Khoa.

Năm 1946, Phạm Quang Lễ theo Bác Hồ trở về Tổ quốc sau hơn 11 năm du học. Và cái tên Trần Đại Nghĩa mà Bác Hồ đặt cho ông năm đó, là cái tên đã đưa ông đi vào lịch sử ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam.

Được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ, trở thành Cục trưởng đầu tiên của Cục Quân giới, Trần Đại Nghĩa đã cùng nhiều đồng chí xây dựng và phát triển ngành quân giới, chế tạo ra nhiều loại vũ khí mới trong điều kiện vô cùng thiếu thốn về vật tư thiết bị, trong đó nổi bật nhất là súng và đạn Bazoka, súng không giật SKZ góp phần quan trọng để quân đội ta chiến thắng trên chiến trường.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa

Từ những năm 1950 cho đến cuối đời, nhà khoa học Trần Đại Nghĩa được Đảng và Nhà nước tin tưởng và giao nhiều trọng trách quan trọng: Cục trưởng Cục quân giới, Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần rồi Phó Chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật (Bộ Quốc phòng). Từ Thứ trưởng Bộ Công thương rồi Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, dù ở cương vị nào Ông cũng hoàn thành công việc được giao một cách xuất sắc và lại tiếp tục được cử giữ nhiều trọng trách mới: Phó Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước. Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước. Hoà bình lập lại (1975), Ông đảm nhiệm vị trí Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam rồi Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã qua Hiệu trưởng đầu tiên trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, Uỷ viên Ban chấp hành Tổng công đoàn Việt Nam, Cố vấn Phòng Thương mại và Công nghiệp VN, Đại biểu quốc hội khoá II, III.

Mỗi chặng đường công tác thành công của ông đều được ghi nhận bằng những huân chương và giải thưởng cao quý như: Danh hiệu Anh hùng lao động (một trong bảy Anh hùng lao động đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1952), Huân chương kháng chiến, Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh và còn được bầu là Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (trước đây). Là một nhà quân sự tài ba, Ông được phong quân hàm Thiếu tướng đợt đầu tiên năm 1948.

Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận – TP. Hồ Chí Minh. Với những cống hiến cho đất nước, với một nhân cách lớn và lý tưởng sống cao đẹp, GS.VS. Trần Đại Nghĩa đã để lại sau lưng mình cả một huyền thoại.

Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Ngày 20 tháng 5 năm 1975, Chính phủ quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam – Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn nhất của cả nước về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, công nghệ. Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, được cử kiêm giữ chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam. Từ tháng 2/1977, Giáo sư Trần Đại Nghĩa thôi kiêm giữ chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước để tập trung làm nhiệm vụ Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam.

Giáo sư, Viện trưởng Trần Đại Nghĩa có chủ trương xây dựng Viện theo mô hình hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học của các nước Xã hội Chủ nghĩa. Ông đã mời các giáo sư nổi tiếng, những người đứng đầu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật của cả nước tham gia Hội đồng Khoa học, nhưng có một băn khoăn là Viện chưa có Đoàn Chủ tịch để lãnh đạo Hội đồng Khoa học.

Đầu năm 1977, theo sáng kiến của Phó Thủ tướng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã bổ nhiệm cùng một lúc 9 giáo sư đại diện cho các ngành khoa học làm Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam với hàm Thứ trưởng, coi như là thành viên của Đoàn Chủ tịch Hội đồng Khoa học.

Trong giai đoạn đầu thành lập, năm 1977 lực lượng nghiên cứu của Viện chỉ có khoảng 1300 người và 30 đơn vị trực thuộc rải khắp từ Bắc vào Nam, trong đó có 10 tiến sĩ khoa học, 131 tiến sĩ, 770 kỹ sư và trình độ đại học. Tài sản cố định lúc đó của Viện còn nghèo nàn và thiếu thốn. Trong điều kiện vô cùng khó khăn như vậy, Ban lãnh đạo Viện do Giáo sư Trần Đại Nghĩa đứng đầu đã có những giải pháp hữu hiệu để xây dựng và phát triển Viện Khoa học Việt Nam.
 
Viện trưởng Trần Đại Nghĩa đã chủ trương, một mặt đưa những cán bộ của Viện đi đào tạo, bồi dưỡng tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, mặt khác tuyển chọn những cán bộ trẻ tốt nghiệp xuất sắc bậc đại học và sau đại học bổ sung vào lực lượng nghiên cứu của Viện. Đồng thời mời những nhà khoa học có danh tiếng trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau chuyển về Viện làm việc, hoặc tham gia chủ trì những vấn đề nghiên cứu lớn cũng như tham gia vào Hội đồng Khoa học của Viện Khoa học Việt Nam.

Một chủ trương quan trọng của Giáo sư Viện trưởng Trần Đại Nghĩa là thực hiện dân chủ tập trung trong nghiên cứu khoa học. Ban lãnh đạo Viện nhất trí với chủ trương của Viện trưởng là xây dựng Viện Khoa học Việt Nam theo mô hình Viện Hàn lâm Khoa học của các nước Xã hội Chủ nghĩa. Hội đồng khoa học của viện là cơ quan khoa học cao nhất đề xuất và quyết định những vấn đề nghiên cứu cơ bản, từ phương hướng, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, những trọng tâm, trọng điểm của các lĩnh vực nghiên cứu cũng như đánh giá kết quả của những đề tài… Hội đồng Khoa học bao gồm những nhà khoa học chủ chốt, tiêu biểu của các lĩnh vực chuyên sâu của Viện Khoa học Việt Nam, đồng thời mời các nhà khoa học nổi tiếng của các Bộ, ngành khác, các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu ngoài Viện. Các đồng chí lãnh đạo Viện Khoa học Việt Nam là thành viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng Khoa học. Tổ chức như vậy sẽ phát huy được trí tuệ tập thể của các nhà khoa học trong và ngoài viện khi quyết định những vấn đề quan trọng, những đề tài lớn của đất nước.

GS.VS.Trần Đại Nghĩa tại Lễ Kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Khoa học Việt Nam

Giáo sư Trần Đại Nghĩa rất quan tâm hình thành và phát triển các ngành khoa học cơ bản. Giáo sư Phan Đình Diệu, nhà toán học nổi tiếng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam có tâm sự rằng: “Về khoa học tính toán là một lĩnh vực mới ở nước ta, còn nhiều thiếu thốn và gian nan. Nhưng Giáo sư Nghĩa đã am hiểu cặn kẽ nội dung khoa học cũng như vai trò của khoa học này đối với sự phát triển của đất nước. Trong thời gian Giáo sư Nghĩa là Viện Trưởng Viện Khoa học Việt Nam đã thành lập được Viện Khoa học Tính toán và Điều  khiển, đã tạo điều kiện để viện có những thành tích sau này trong nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu kỹ thuật, nhất là kỹ thuật vi tính, làm cơ sở phát triển máy vi tính và ngành vi tin học sau này”.

Giáo sư Trần Đại Nghĩa cũng hết sức quan tâm đến hợp tác quốc tế và coi đây là một vấn đề thiết yếu. Trong thời gian ông làm Viện trưởng, ông đã mời nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới đến thăm Viện Khoa học Việt Nam, góp ý về những bước đi xây dựng các ngành khoa học của Việt Nam. Năm 1981, Ông đã mời Giáo sư Viện sĩ Ken Đứt, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô sang thăm và làm việc. Thông qua việc hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện cho cán bộ của ta nâng cao trình độ, sớm tiếp cận với những thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại của thế giới.

Năm 1979, một sự kiện đáng ghi nhớ là Viện Khoa học Việt Nam phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô thực hiện chương trình nghiên cứu cho chuyến bay vào vũ trụ của phi công Phạm Tuân và V.V Gorơbatcô. Viện sĩ Trần Đại Nghĩa với tư cách là Chủ tịch Uỷ ban Nghiên cứu vũ trụ của Việt Nam đã cùng với Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu tích cực chuẩn bị cho chuyến bay này. Đó là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng về khoa học và chính trị đối với nước ta trong chương trình hợp tác nghiên cứu vũ trụ giữa các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em.

Cố Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo, nguyên là Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Khoa học Việt Nam từ 1977 đến 1993 đã nhận định rằng: “Trong những năm 1977 – 1983, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, các ngành khoa học ở Viện Khoa học Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, đã định hướng đúng cho các hoạt động của mình. Vị trí và vai trò của Viện được khẳng định trong giới khoa học ở trong và ngoài nước” (Nguyễn Văn Đạo – “Viện Sĩ Trần Đại Nghĩa” trang 72 NXB Trẻ Tp.HCM 2002).

Để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí, nhiều công trình tại các đơn vị, địa phương trong cả nước đã được vinh dự mang tên Ông: phố Trần Đại Nghĩa ở Hà Nội, đường Trần Đại Nghĩa tại TP. Đà Nẵng, đường Trần Đại Nghĩa tại TP. Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, tên của ông còn được đặt cho một số trường học trên cả nước, trong đó có Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, Trường Đại học Trần Đại Nghĩa ở TP Hồ Chí Minh; Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa ở TP Vĩnh Long và Trường THPT Trần Đại Nghĩa ngay tại quê hương đồng chí (huyện Tam Bình)...

VIỆN HÓA HỌC

Trụ sở: 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội
Viện trưởng: GS.TS. NCVCC. Nguyễn Văn Tuyến
Phó Viện trưởng: 1. PGS.TS. NCVCC. Vũ Đức Lợi
                              2. PGS.TS. NCVC. Ngô Quốc Anh
                               3. TS. NCVC. Hoàng Mai Hà